Rộng mở tâm hồn với văn học

hanhtrangvaodaihoc.com - chuyên gia sách ôn thi đại học - sách THPT

Văn học khơi sáng tâm hồn giới trẻ

hanhtrangvaodaihoc.com - chuyên gia sách ôn thi đại học - sách THPT

Mục đích của người viết văn là giữ cho nền văn minh không tự hủy diệt

The purpose of a writer is to keep civilization from destroying itself.

Cuối cùng văn chương cũng chính là nghề mộc. Anh đều làm việc với hiện thực, một vật liệu cũng cứng như gỗ.

Ultimately, literature is nothing but carpentry. With both you are working with reality, a material just as hard as wood.

26 tháng 7 2015

Phân tích nhân vật Bá Kiến

Đề 9: Phân tích nhân vật Bá Kiến trong tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao.

ĐÁP ÁN- HƯỚNG DẪN LÀM BÀI

   Các ý chính cần có:
   I. Vài nét về tác giả, tác phẩm và giới thiệu nhân vật.
   1. Nam Cao (1915- 1951) là một nhà văn hiện thực có tư tưởng nhân đạo sâu sắc vừa mới mẻ. Ông am hiểu khá tường tận về cuộc sống người nông dân nghèo sau luỹ  tre làng.
   2. Vì vậy, viết về tầng lớp này, ông đã viết được hàng loạt tác phẩm có giá trị. Tiêu biểu nhất trong số đó là “Chí Phèo” (1941) xứng đáng là một kiệt tác của dòng văn học hiện thực phê phán. Với ngòi bút hiện thực sâu sắc của mình, qua “Chí Phèo”, Nam Cao đã tập trung vạch trần được mối mâu thuẫn giai cấp đối kháng ngàn đời chưa thể điều hoà. Đó là mâu thuẫn giữa người nông dân lao động nghèo khổ bị áp bức với bọn cường hào thống trị. Điển hình cho thế lực cường hào thống trị tàn bạo ấy lá Bá Kiên, một điển hình sắc sảo của văn học Việt Nam.
II. Phân tích nhân vật
A. Lai lịch nhân vật:
   Bá Kiến xuất thân trong một gia đình đã từng bốn đời làm Lí trưởng. Bản thân hắn làm Lí trưởng rồi Chánh tổng. Bằng mưu mô và thủ đoạn khôn khéo, hắn đã lần lượt leo lên đỉnh cao danh vọng: Tiên chỉ làng Vũ Đại, Bá hộ, Chánh hội kì hào, Huyện hào, Bắc Kì nhân dân đại biểu, “Khét tiếng đến cả trong hàng huyện”. Ở làng Vũ Đại, nơi có cái thế đất “quần ngư tranh thực”, nghĩa là bầy cá tranh mồi, Bá Kiến trở thành một con cá lớn.
   B. Những nét tính cách của Bá Kiến:
   Khác với Nghị Lại trong “Bước đường cùng”, Nghị Quế trong “Tắt đèn”, những tên địa chủ trọc phú, hủ lậu, Bá Kiến là loại cường hào cáo già rất lọc lõi. Đấy là nhân vật mang rõ nét phong cách nghệ thuật độc đáo đầy tài năng của Nam Cao. Bá Kiến là một tên thống trị lắm mưu nhiều kế, đặc biệt thâm độc và nham hiểm. Khắc hoạ nhân vật này, Nam Cao không nhấn mạnh khía cạnh bóc lột người nông dân của Bá Kiến, mà khắc sâu một nét bản chất đặc biệt của lão. Đấy là một tên cường hào có nghệ thuật thống trị, đàn áp người nông dân rất thâm hiểm. Vì thế, Bá Kiến có những nét tính cách chính tiêu biểu sau đây:
   1. Bá Kiến là một tên cường hào ác bá đặc biệt gian hùng, nham hiểm. Đây là nét tính cách mang ý nghĩa bản chất nhất của Bá Kiến. Nam Cao đã mô tả những nét bản chất ấy qua những chi tiết rất sinh động. Đó là “cái giọng quát rất sang”, bao giờ cũng quát để thử dây thần kinh của người ta. Bá Kiến có cái cười “Tào Tháo” và giọng nói ngọt nhạt mà thâm hiểm chết người. Đặc biệt, Nam Cao đã để cho nhân vật Bá Kiến độc thoại nội tâm nhằm phơi bày những ý nghĩ tỉnh táo nham hiểm: rút ra những phương châm, thủ đoạn thống trị người nông dân rất khôn ngoan và hiệu quả mà Bá Kiến đã đúc rút từ bốn đời làm tổng lí. Chẳng hạn: “Trị không được thì cụ dùng”, “dùng những thằng đầu bò để trị những thằng đầu bò”; “mềm nắn rắn buông”. “Bám thằng có tóc chứ không bám thằng trọc đầu”, với triết lí “thứ nhất sợ kẻ anh hùng, thứ hai sợ kẻ cố cùng liều thân”. Đúng như mọi người đã thừa nhận Bá Kiến là một tên cường hào “khôn róc đời”. Con người “thét ra lửa” ấy đã biết “ngọt ngào”, “dịu giọng” xử nhũn với những thằng “cố cùng liều thân” như Chí Phèo để biến thành công cụ đắc lực trong bàn tay thống trị độc ác của Cụ. Nhờ “biết mềm, biết cứng, biết thu dụng những thằng bạt mạng không sợ chết và không sợ đi tù” rất được việc trong chuyện đến “tác hại bất cứ anh nào không nghe mình”, mà Bá Kiến đã tập hợp được một phe cánh, bè đảng xung quanh mình đầy thế lực và sức mạnh lấn át tất cả, làm cho bọn cường hào đối địch trong làng phải nể sợ, kiêng dè.
   2. Bá Kiến là một tên cường hào thống trị lọc lừa, gian dối, xảo quyệt luôn luôn biết ném đá giấu tay. Đọc tác phẩm “Chí Phèo”, độc giả đã thấm thía với những suy nghĩ về mưu kế ứng xử khôn khéo mà hiểm độc của cụ Bá.
   “Hãy ngấm ngầm đẩy người ta xuống sông, nhưng rồi dắt nó lên để nó cảm ơn. Hãy đập bàn, đập ghế đòi cho được năm đồng, nhưng được rồi thì vứt trả năm hào- vì thương anh túng quá!”. Vì thế mà nhận cho ra bộ mặt thật của tên cáo già Bá Kiến không phải là điều dễ dàng.
   3. Về phương diện bóc lột người nông dân, Bá Kiến là kẻ “già đời trong nghề đục khoét”. Một mặt, lão tìm cách “bóp nặn” đám dân hiền lành và yên phận vào những vụ thuế; một mặt khác, lão thu dụng “những thằng bạt mạng” sinh chuyện với những kẻ có máu mặt trong làng để mà ăn, để mà kiếm chác.
   4. Bá Kiến còn là tên cường hào, địa chủ có nhân cách rất xấu xa: dâm đãng, đồi bại. Dù đã ngoài sáu mươi tuổi, một lúc có đến ba, bốn vợ, hay ghen bóng, ghen gió với “những thằng trai trẻ” và rất sợ vợ; nhưng chính lão cáo già ham sắc và thích chơi trống bỏi ấy lại bí mật đi lại với vợ Binh Chức đã có bốn con, rồi còn lên tỉnh ngồi chung xe, chơi bời trác táng.
   5. Chính tên cáo già lọc lõi, gian hùng ấy đã đẩy biết bao người dân lương thiện như Binh Chức, Năm Thọ, đặc biệt là Chí Phèo vào tù, vào con đường tha hoá, bị đày đoạ, lăng nhục và khi cần thì sẵn sàng thí mạng những con người khốn khổ đó. Việc Bá Kiến xúi Chí Phèo đi đòi tiền Đội Tảo chẳng khác nào cài sẵn một cái bẫy để mượn tay Đội Tảo giết chết Chí Phèo.
   III. Kết luận

   Bá Kiến là một tên cường hào điển hình sắc sảo, vừa có những nét cá tính sinh động, vừa có những nét chung phổ biến, tiêu biểu cho bọn cường hào địa chủ gian ác. Nhân vật Bá Kiến cũng là một hình tượng mang rõ nét tài năng của Nam Cao. Trong dòng văn học hiện thực phê phán lúc bấy giờ, ít có ngòi bút nào khắc hoạ được một hình tượng sinh động và có chiều sâu như thế.

Bình luận cách kết thúc truyện ngắn Chí Phèo

Đề 8: Trong tác phẩm “Chí Phèo”, Nam Cao đã kết thúc như sau:
   “Và nhớ lại những lúc ăn nằm với hắn, Thị nhìn trộm bà cô, rồi nhìn nhanh xuống bụng:
   - Nói dại, nếu mình chửa, bây giờ hắn chết rồi thì làm ăn thế nào?
   Đột nhiên Thị thấy thoáng hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa, và vắng người lại qua…”
                                                               (Văn học lớp 11, tập I- trang 235)
   Anh (chị) hãy bình luận cách kết thúc nói trên.
ĐÁP ÁN - HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
   1. Giới thiệu vài ba dòng về tác giả, tác phẩm và dẫn chi tiết kết thúc “Đột nhiên Thị thấy… vắng người lại qua…
   2. Cách kết thúc này đã bộc lộ sự hạn chế của tác phẩm, và các nhà văn hiện thực phê phán nói chung, Nam Cao nói riêng, do chưa nắm được chân lí Cách mạng, chưa thấy được khả năng đổi đời của người lao động nghèo khổ và triển vọng của xã hội, nên họ thường có cái nhìn bi quan về đời sống. Một chị Dậu đẹp người đẹp nết và tiềm tàng một sức sống mãnh liệt mà kết thúc tác phẩm cũng phải “chạy ra ngoài trời, trời tối đen như mực, như cái tiền đồ của chị”- “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố; một anh Pha đã dám dùng đòn càn phang vào đầu Nghị Lại mà kết cục cũng phải rơi vào “Bước đường cùng” và tương lai là một cái nhà tù tăm tối- (“Bước đường cùng” của Nguyễn Công Hoan). Cách kết thúc vòng tròn khép kín của văn học hiện thực phê phán rõ ràng là khác với cách kết thúc trong các tác phẩm văn học cách mạng về sau này như “Vợ chồng A Phủ” (Tô Hoài), “Vợ nhặt” (Kim Lân). Các nhà văn cách mạng đã chỉ ra được con đường sống cho người nông dân và khẳng định một quy luật: khi rơi vào tình trạng cùng đường thì họ sẽ hướng tới cách mạng.
   3. Kết thúc tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao đầy ám ảnh không chỉ tạo nên một kiểu kết thúc khép kín, đầu cuối tương ứng mà còn để lại một nỗi day dứt và nỗi bi thương trong lòng độc giả. “Cái lò gạch cũ” đầu tác phẩm là nơi mở đầu một số phận, một kiếp người đau khổ, đầy bi kịch thương tâm. Hình ảnh “cái lò gạch cũ” ở cuối tác phẩm không phải là hình ảnh thực mà là một hình ảnh tưởng tượng nói lên rằng: “Rất có thể từ cái lò gạch cũ ấy, Thị Nở lại cho ra đời một Chí Phèo con ngỗ ngược hơn bố nó để nối nghiệp. Điều ấy chưa có gì đảm bảo, nhưng có điều chắc chắn rằng chừng nào còn tồn tại xã hội “người ăn thịt người”, thì chừng ấy còn tồn tại hiện tượng Chí Phèo”. Nghĩa là Chí Phèo chết, nhưng hiện tượng Chí Phèo chưa chấm dứt (Hiện tượng Chí Phèo là hiện tượng hàng vạn người nông dân lao động lương thiện bị đẩy vào con đường tha hoá, lưu manh hoá và khi ý thức nhân phẩm trở về thì lại bị xã hội lạnh lùng cự tuyệt để phải tìm đến cái chết thảm thương). Giá trị hiện thực sâu sắc của tác phẩm được toát ra từ một chi tiết giản dị như thế. Qua chi tiết này, Nam Cao lúc đó hình như cảm thấy số phận người nông dân cứ rơi vào một vòng luẩn quẩn “Con kiến mà leo cành đa, leo phải cành cụt leo ra leo vào” không lối thoát.

   Kết luận: Văn hào Balzắc đã từng phát biểu: “Chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn”. Chi tiết là lá, hình tượng là cành. Hiểu như vậy, chúng ta thấy chi tiết độc đáo và giàu ý nghĩa thẩm mĩ nói trên đã dệt nên màu sắc cho hình tượng Chí Phèo và góp phần làm nên sắc xanh ngời cho tác phẩm của Nam Cao xanh mãi với thời gian.

Giá trị nhân đạo trong truyện ngắn Chí Phèo

Đề 7: Anh (chị) hãy phân tích giá trị nhân đạo trong truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao.

ĐÁP ÁN - HƯỚNG DẪN LÀM BÀI

Các ý chính:
   I. Giới thiệu về tác giả, tác phẩm
            1. Giới thiệu khái quát về Nam Cao (1915-1951)
   2. Hoàn cảnh, xuất xứ của “Chí Phèo
   3. Sở dĩ “Chí Phèo” trở thành một kiệt tác chính là nhờ ở giá trị nhân đạo vừa sâu sắc, vừa độc đáo, mới mẻ của tác phẩm.
   II. Giải thích khái niệm
   Giá trị nhân đạo là giá trị cơ bản nhất của tác phẩm văn học chân chính, được tạo nên bởi niềm cảm thông sâu sắc đối với nỗi khổ đau của con người, sự nâng niu, trân trọng những nét đẹp trong tâm hồn con người; đồng thời tác phẩm cũng đã đứng về phía các nạn nhân mà lên án những thế lực tàn bạo chà đạp lên hạnh phúc, quyền sống và phẩm giá của con người.
   III. Giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo
   Trong tác phẩm “Chí Phèo”, Nam Cao đã dành cho người nông dân mà ông từng gắn bó sâu nặng những tình cảm nhân đạo rất sâu sắc và rộng lớn.
1. Tư tưởng nhân đạo của Nam Cao ở đây trước hết được biểu hiện ở chỗ đã khám phá ra nỗi khổ bị đày đọa, lăng nhục, bị cự tuyệt quyền làm người của người lao động lương thiện. Nam Cao bày tỏ niềm cảm thông sâu sắc với nỗi khổ đó.
   2. Qua tấn bi kịch và số phận bi thảm của Chí Phèo Nam Cao cất lên tiếng kêu cứu thảm thiết và đầy phẫn uất cho người lao động lương thiện: làm thế nào để cho con người được sống một cuộc sống xứng đáng trong cái xã hội vùi dập nhân tính ấy; hãy tiêu diệt hoàn cảnh phi nhân tính, hãy làm cho hoàn cảnh trở nên nhân đạo hơn.
   3. Tư tưởng nhân đạo của Nam Cao trong tác phẩm “Chí Phèo” còn  thể hiện qua thái độ lên án gay gắt những thế lực tàn bạo đã gây nên tấn bi kịch đau thương cho người lao động (bọn thống trị độc ác; nhà tù thực dân; những thành kiến, định kiến vô nhân đạo).
   4. Tư tưởng nhân đạo đặc sắc, độc đáo của Nam Cao ở đây còn được thể hiện ở thái độ trân trọng, nâng niu những nét đẹp của người nông dân. Cao hơn nữa, nhà văn còn khám phá ra phẩm chất lương thiện của họ ẩn giấu đằng sau những tâm hồn tưởng như u mê, cằn cỗi.
   a. Những vẻ đẹp ở Chí Phèo
   - Chí Phèo vốn là người nông dân lương thiện
   + Khoẻ mạnh về thể xác (anh canh điền khoẻ mạnh).
   + Lành mạnh về tâm hồn:
   • “Một thằng hiền như đất”.
   • Giàu lòng tự trọng, biết “không thích cái gì người ta khinh”; biết phân biệt giữa tình yêu cao thượng và cảm giác nhục dục thấp hèn. Những lần “bà ba, cái con quỷ cái” bắt hắn làm những việc không chính đáng “hắn thấy nhục, chứ yêu đương gì”.
   + Hắn đã từng mơ ước rất bình dị: “Có một gia đình nho nhỏ, chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải”, nuôi một con lợn để làm vốn liếng. “Khá giả thì mua dăm ba sào làm ruộng làm”.
- Khi đã bị nhà tù và xã hội thực dân phong kiến biến Chí thành “con quỷ dữ làng Vũ Đại”, nhưng dưới đáy sâu tâm hồn hắn vẫn lấp lánh ánh sáng nhân phẩm.
   + Khát khao tình yêu hạnh phúc lứa đôi: biết yêu thương, biết “say sưa”, “rưng rưng” và “bẽn lẽn” nhận ra hương vị cháo hành “Trời ơi mới thơm làm sao!”. Đó là hương vị của tình người, của tình yêu chân thành, của hạnh phúc giản dị và thấm thía lần đầu tiên Chí Phèo được hưởng. Chí Phèo muốn được sống với Thị Nở: “Giá cứ thế này mãi thì thích nhỉ?”. Và khi bị “cắt đứt mối tình”, Chí biết tiếc, biết buồn, biết khóc và uất ức, giận dữ.
   + Khát khao được làm người lương thiện. Chí Phèo “muốn được làm người lương thiện” ! “Trời ơi! Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hoà với mọi người biết bao!”. “Thị Nở có thể sống yên ổn với hắn thì sao người khác lại không thể được. Họ sẽ lại nhận hắn vào cái xã hội bằng phẳng… của những người lương thiện”. Điều đó đã có lúc khiến cho Chí Phèo hồi hộp hi vọng.
   + Có tinh thần phản kháng: Khi bị Thị Nở cự tuyệt và nhận ra mọi nẻo đường trở lại xã hội loài người bị chặn đứng, Chí Phèo đã đến thẳng nhà Bá Kiến, vung lưỡi dao căm hờn lên giết chết Bá Kiến- kẻ thù khủng khiếp đã cướp cả nhân hình lẫn nhân tính của Chí để đòi quyền làm người lương thiện của mình. Sau đó, Chí Phèo đã tự sát vì tuyệt vọng, vì Chí không muốn sống tăm tối, tủi nhục như kiếp sống thú vật nữa.
   Dựng lên một hình tượng người nông dân bị tha hoá, “một con quỷ dữ của làng Vũ Đại”, Nam Cao không hề có ý bôi nhọ người nông dân, trái lại đã dõng dạc khẳng định nhân phẩm của  họ, trong khi họ đã bị rách nát cả hình hài lẫn tâm hồn. Điều đó chứng tỏ con mắt nhân đạo của Nam Cao rất sâu sắc, mới mẻ và “tinh đời”.
   b. Những vẻ đẹp ở nhân vật Thị Nở
   - Tư tưởng nhân đạo độc đáo và mới mẻ của Nam Cao trong tác phẩm “Chí Phèo” còn được biểu hiện ở việc phát hiện ra vẻ đẹp của nhân vật Thị Nở.
   + Dưới ngòi bút của Nam Cao, Thị Nở đã trở thành người phụ nữ rát giàu tình thương. Đằng sau cái bề ngoài xấu xí và tính khí “dở hơi” còn ẩn chứa một trái tim nhân hậu. Khi Chí Phèo bị ốm, Thị Nở đã chăm sóc tận tình… Với bàn tay dịu dàng, ấm nóng nhân tình của người phụ nữ, Thị đã mang đến cho Chí một bát cháo hành còn “bốc khói”. Chính bát cháo hành ấm nóng tình người ấy đá đánh thức dậy nhân tính ở Chí Phèo.
   + Cũng như những người phụ nữ khác, Thị Nở rất khát khao tình yêu và hạnh phúc. Cuộc gặp gỡ của hai kẻ khốn khổ đã tạo nên sự đồng cảm và Thị Nở đã yêu Chí Phèo, ước ao được chung sống với Chí. Tình yêu đã làm cho người đàn bà “xấu đến nỗi ma chê quỷ hờn” ấy biến đổi một cách kì diệu: “Trông Thị thế mà có duyên. Tình yêu làm cho có duyên”. Phát hiện ra điều đó chứng tỏ cái nhìn nhân đạo của Nam Cao có chiều sâu hiếm có.
   Kết luận

   “Chí Phèo” là một tác phẩm có giá trị nhân đạo vừa sâu sắc, vừa độc đáo, mới mẻ. Giờ đây, nền văn học Việt Nam đã bước sang thiên niên kỉ mới, nhìn lại chặng đường đã qua, “Chí Phèo” của Nam Cao vẫn được xếp vào hàng kiệt tác trước hết là ở giá trị nhân đạo sâu sắc, độc đáo đó.

Phân tích diễn biến tâm trạng Chí Phèo

Đề 6: Phân tích diễn biến tâm trạng Chí Phèo (truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao) từ buổi sáng sau khi gặp Thị Nở đến khi kết thúc cuộc đời để làm nổi rõ bi kịch của nhân vật này.

ĐÁP ÁN - HƯỚNG DẤN LÀM BÀI

1. Khái quát tác giả, tác phẩm và bi kịch nhân vật
   a. Nam Cao (1915- 1951) là nhà văn hiện thực lớn có tư tưởng nhân đạo vừa sâu sắc, vừa mới mẻ, độc đáo. Sáng tác của ông trước Cách mạng xoay quanh hai đề tài chính là trí thức tiểu tư sản và người nông dân cùng khổ. Điều làm ông day dứt đến đau đớn là tình trạng nhân cách con người bị huỷ hoại. Là nhà văn có biệt tài phân tích tâm lí, Nam Cao đã khám phá ra những diễn biến nội tâm nhân vật vừa tất yếu, vừa bất ngờ rất thú vị. Qua việc tìm hiểu diễn biến tâm trạng Chí Phèo từ buổi sáng sau khi gặp Thị Nở đến khi kết thúc cuộc đời, chúng ta cũng có thể thấy rõ điều đó.
b. “Chí Phèo” là kiệt tác của Nam Cao về đề tài người nông dân và là kết tinh khá đầy đủ cho tài năng nghệ thuật của Nam Cao. Tác phẩm đi sâu vào tấn bi kịch tinh thần của nhân vật chính Chí Phèo. Bi kịch của Chí Phèo gồm hai bi kịch nối tiếp nhau. Thứ nhất, bi kịch bị tha hoá, đầy đọa lăng nhục, từ một người nông dân lương thiện bị xã hội biến thành kẻ bất lương, thậm chí thành “con quỷ dữ”. Bi kịch thứ hai là bi kịch bị từ chối quyền làm người.
   Đoạn mô tả Chí Phèo từ buổi sáng sau khi gặp Thị Nở đến khi kết thúc cuộc đời thuộc bi kịch thứ hai.
   2. Phân tích cụ thể diễn biến tâm trạng Chí Phèo.
   a. Trước hết là sự thức tỉnh. Bắt đầu là tỉnh rượu. Sau “những cơn say vô tận”, “bây giờ thì hắn tỉnh” sau đêm gặp Thị Nở, Chí Phèo đã sống lại những cảm xúc đầy nhân tính. Hắn cảm nhận được không gian xung quanh với “cái lều ẩm thấp mới chỉ lờ mờ”. Đặc biệt, hắn đã cảm nhận được những âm thanh quen thuộc của cuộc sống quanh mình: “Tiếng cười nói của những người đi chợ; tiếng gõ mái chèo đuổi cá, tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá!”. Những âm thanh bình dị ấy ngày nào chẳng có, nhưng xưa nay, vì say, vì hắn bị xã hội làm cho “mù điếc cả tâm hồn”, không nghe được. Giờ đây được Thị Nở làm cho tâm hồn hắn sáng tỏ, thì những âm thanh ấy bỗng vọng sâu vào trái tim hắn như tiếng gọi tha thiết của sự sống. Cùng với sự cảm nhận bức tranh cuộc sống xung quanh, Chí Phèo cũng đã cảm nhận được một cách thấm thía về tình trạng thê thảm của bản thân mình (già nua, cô độc, trắng tay). Đoạn đối thoại của hai người đàn bà đã gợi nhắc cho hắn ước mơ về một gia đình hạnh phúc, bình dị. Nhưng giờ đây, Chí chỉ thấy một thực tại buồn bã, cô đơn; “Chí Phèo hình như đã trông thấy trước tuổi già của hắn, đói rét, ốm đau và cô độc, điều này còn đáng sợ hơn đói rét và ốm đau”.
b. Sau khi tỉnh rượu, Chí Phèo đã tỉnh ngộ và hi vọng. Chí Phèo ăn bát cháo hành được trao từ bàn tay ấm nóng tình thương của Thị Nở, hắn vô cùng cảm động và thực sự phục sinh tâm hồn. Hắn “rất ngạc nhiên”, “mắt hắn hình như ươn uớt” bởi vì “đây là lần thứ nhất hắn được người ta cho cái gì”. Hắn nhận ra “Trời ơi, cháo mới thơm làm sao!”. Hương vị cháo hành hay hương vị của tình yêu chân thành và cảm động, hạnh phúc giản dị và thấm thía lần đầu tiên Chí Phèo được hưởng đã đánh thức dậy nhân tính vùi dập bấy lâu? “Trời ơi! Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hoà với mọi người biết bao! Thị Nở sẽ mở đường cho hắn”, mọi ngưới sẽ lại nhận hắn vào cái xã hội bằng phẳng của những con người lương thiện. Chúng sẽ làm thành một cặp rất xứng đôi. Chúng nhất định sẽ lấy nhau. Câu trả lời của Thị Nở lúc này sẽ quyết định số phận của Chí: được kết nạp lại xã hội loài người hay vĩnh viễn bị đày đoạ trong kiếp sống thú vật? Chí Phèo hồi hộp hi vọng. Nhưng cánh cửa hi vọng vừa hé mở thì đã bị đóng sầm ngay lại. Vì bà cô không cho Thị Nở “đâm đầu” đi lấy “thằng chỉ có một nghề là rạch mặt ăn vạ”. Chí Phèo nghĩ ngợi một lát rồi bỗng nhiên “ngẩn người”. Hắn “sửng sốt”. Hắn lôi rượu ra uống. “Nhưng càng uống hắn càng tỉnh ra! Chao ôi! buồn!”. Hắn cứ thoảng thấy hơi cháo hành- hơi của tình yêu hạnh phúc đang sắp tuột khỏi bàn tay cố níu kéo của Chí và “ôm mặt khóc rưng rức”. Đây chính là đỉnh điểm của bi kịch tinh thần trong Chí Phèo.
c.  Quằn quại trong đau khổ và tuệt vọng, Chí Phèo lại xách dao ra đi. Nhưng hắn không rẽ vào nhà Thị Nở như đã dự định ban đầu (đến đâm chết con đĩ Nở và con khọm già kia) mà đến thẳng nhà Bá Kiến. Trong cơn say, hắn càng thấm thía tội ác của kẻ đã cướp đi hình người và hồn người của hắn. Chí Phèo đã vung lưỡi dao căm thù lên giết chết Bá Kiến và quay lại tự kết liễu cuộc đời . Chí Phèo chết vì không tìm ra lối thoát, vì xã hội không cho hắn sống.
   Gấp trang sách “Chí Phèo” lại, ta vẫn nghe văng vẳng đâu đây câu hỏi gay gắt đến tuyệt vọng của Chí: “Ai cho tao lương thiện?”. Đó là “Một câu hỏi lớn. Không lời đáp” còn làm day dứt hàng triệu trái tim người đọc: làm thế  nào để được sống cuộc sống con người trong cái xã hội tàn bạo vùi dập nhân tính ấy? Đấy cũng chính là bi kịch lớn nhất ở nhân vật yêu quý này.
Tác phẩm kết thúc, Chí Phèo chết. Nhưng dường như hiện tượng Chí Phèo - hiện tượng hàng vạn người nông dân lương thiện bị xã hội đẩy vào con đường tha hoá, lưu manh hóa và khi ý thức nhân phẩm trở về thì bị xã hội lạnh lùng cự tuyệt vẫn chưa chấm dứt. Chi tiết cái lò gạch bỏ không, vắng người lại qua hiện ra ở cuối tác phẩm khi Thị Nở nhìn nhanh xuống bụng, bỗng tưởng tượng ra hình ảnh này đã nói với ta điều đó.
Kết luận

Quá trình diễn biến tâm trạng nói trên của Chí Phèo đã làm nổi rõ bi kịch: “Sinh ra là người mà không được làm người”. Qua đó, Nam Cao đã bày tỏ sự cảm thông sâu sắc với khát vọng lương thiện trong con người và sự bế tắc của những khát vọng trong hiện thực xã hội bấy giờ.

Phân tích truyện ngắn Đời thừa của Nam Cao

Đề 5: “Đời thừa” là truyện ngắn xuất sắc của Nam Cao viết về người trí thức tiểu tư sản nghèo trong xã hội cũ. Anh (chị) hãy:
   1. Phân tích tấn bi kịch tinh thần của Hộ trong thiên truyện ngắn này.
   2. Làm rõ tư tưởng nhân đạo sâu sắc, mới mẻ của Nam Cao qua việc thể hiện tấn bi kịch tinh thần ấy.
   3. Chỉ ra những nét đặc sắc về nghệ thuật của tác phẩm.
ÔN THI ĐẠI HỌC MÔN VĂN, XEM VÀ MUA SÁCH HAY TẠI ĐÂY!

ĐÁP ÁN - HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
I. Giới thiệu khái quát về Nam Cao, truyện ngắn “Đời thừa” và bi kịch tinh thần của nhân vật Hộ.
- Nam Cao (1915-1951) là một nhà văn hiện thực lớn có tư tưởng nhân đạo rất sâu sắc, phong phú và mới mẻ.
   - Là một nhà văn kiêm giáo khổ trường tư, ông am hiểu khá tường tận cuộc sống của tầng lớp trí thức tiểu tư sản nghèo. Vì vậy, viết về tầng lớp này, ông đã khám phá ra nhiều tấn bi kịch tinh thần có tầm cỡ thời đại. Một trong những bi kịch đó là người trí thức khao khát làm một sự nghiệp tinh thần cao cả để nâng cao ý nghĩa, giá trị sự sống của con người, nhưng kết cục bị cuộc sống tàn nhẫn đẩy vào kiếp “Đời thừa”; coi trọng và muốn sống theo nguyên tắc tình thương nhưng chính mình lại vi phạm vào lẽ sống cao đẹp đó. Nhân vật Hộ trong tác phẩm “Đời thừa” (1943) được Nam Cao miêu tả một cách chân thực và hấp dẫn là hiện thân của hai tấn bi kịch nói trên.
2. Phân tích những bi kịch tinh thần của Hộ và cũng là của tầng lớp trí thức tiểu tư sản nghèo trong xã hội cũ.
   a. Giải thích khái niệm: Bi kịch hiểu theo nghĩa thông thường là nỗi đau khổ vò xé triền miên về tinh thần, không có cách gì thoát được. Nhưng hiểu theo văn học thì bi kịch chỉ xảy ra khi có sự xung đột giữa khát vọng, hoài bão, lí  tưởng chân chính với thực tại. Thực tại chưa đủ điều kiện cho phép cuộc sống nhân thực hiện hoài bão, lí tưởng của mình nên rơi vào thất bại, sống trong dằn vặt đau đớn, thậm chí dẫn đến cái chết thảm thương.
   b. Bi kịch tinh thần của Hộ thể hiện ở những mặt sau:
   - Bi kịch trong sự nghiệp: Vỡ mộng
   Hộ là một nhà văn có tài năng, có khát vọng, hoài bão lớn lao và lương tâm cáo cả. Anh muốn “nâng giá trị đời sống” của mình bằng sự sáng tạo nghệ thuật có ích cho xã hội. Với anh, văn chương là trên hết. “Đói rét không có nghĩa lí gì đối với gã trẻ tuổi say mê lí tưởng…”… “ Hắn muôn vun xới tài năng cho ngày càng nảy nở”. Cả đời mình, Hộ phấn đấu cho một sự nghiệp văn chương chân chính, có ích cho mọi người bởi những tác phẩm giàu tính sáng tạo “biết đào sâu, khám phá, khơi những nguồn chưa ai khơi” và mang nội dung nhân đạo thấm thía. “Nó ca tụng tình thương, lòng bác ái, sự công bằng. Nó làm cho người gần người hơn”. Không những thế, Hộ còn hi vọng tác phẩm của mình sẽ đạt tới đỉnh vinh quang: “Cả một đời tôi, tôi sẽ chỉ viết một quyển thôi, nhưng quyển ấy sẽ ăn giải Noben và dịch ra mọi thứ tiếng trên hoàn cầu”.
- Những ý nghĩ ấy không chứng tỏ Hộ là con người hám danh mà chỉ chứng tỏ anh là nghệ sĩ có hoài bão lớn lao, có lí tưởng cao đẹp. Hộ muốn khằng định cá nhân mình trước cuộc đời, muốn cống hiến tài năng tận độ cho xã hội, không bằng lòng với cuộc sống tầm thường, vô danh, vô nghĩa lí.
   - Nhưng cuộc sống tàn nhẫn với những lo toan vặt vãnh hằng ngày: “Nỗi đời cơ cực đang giơ vuốt. Cơm áo không đùa với khách thơ” (Xuân Diệu) đã phá vỡ giấc mộng đẹp của Hộ. Vì phải kiếm được nhiều tiền để nuôi sống gia đình, thuốc thang cho vợ con, Hộ không thể viết một cách thận trọng theo yêu cầu nghiêm ngặt của nghệ thuật chân chính, mà phải viết một cách vội vàng, cẩu thả, chạy theo một thứ văn chương tầm thường “vô vị, nhạt nhẽo”. Là một nhà văn chân chính giàu tài năng, Hộ ý thức được điều đó, anh cảm thấy xấu hổ và tự lên án mình “như một thằng khốn nạn ... Hắn chính là một kẻ bất lương… Là đê tiện… là một kẻ vô ích, một người thừa…” nhưng vẫn không thể nào khác được. Hộ cứ day dứt đau khổ mãi.
- Bi kịch trong gia đình: bi kịch tự mình chà đạp lên lẽ sống tình thương, nhân cách làm người. Hộ coi trọng và muốn sống theo nguyên tắc tình thương nhưng lại vi phạm vào lẽ sống cao đẹp ấy, để rồi ăn năn, sám hối. Hộ cưu mang Từ “Nhận Từ làm vợ, nuôi mẹ già, con dại cho Từ, đứng ra làm ma cho bà mẹ Từ”. Hộ đã có lúc nghĩ đến chuyện tự gỡ bỏ những sợi dây ràng buộc tình thương để theo đuổi giấc mộng văn chương. Trong cơn khủng hoảng bế tắc, muốn được giải thoát, Hộ nghĩ đến câu nói của một nhà triết học sặc mùi phát xít: “Phải biết ác, biết tàn nhẫn để sống cho mạnh mẽ”. Nhưng rồi Hộ đã phản đối lại triết lí sức mạnh đó, để đi theo triết lí sống tình thương, đầy nhân bản của mình “kẻ mạnh không phải là kẻ giẫm lên vai kẻ khác để thoả mãn lòng ích kỉ. Kẻ mạnh chính là kẻ giúp đỡ kẻ khác trên đôi vai mình”.
Như vậy, đối với Hộ (cũng là với Nam Cao) tình thương yêu, lòng nhân ái là tiêu chuẩn cao nhất quyết định tư cách làm người.
   3. Tư tưởng nhân đạo sâu sắc, mới mẻ của Nam Cao
   a. Phát hiện và phân tích sâu sắc tấn bi kịch tinh thần đau đớn của Hộ, Nam Cao đã tố cáo xã hội đã đày đoạ con người trong sự nghèo đói, vùi dập những ước mơ, làm chết mòn đời sống tinh thần và lẽ sống, nhân cách cái đẹp của con người.
   b. Trong khi miêu tả con người bị đẩy vào tình trạng có những hành động tàn nhẫn, nằm bên bờ vực tha hoá, Nam Cao vẫn dứt khoát không chấp nhận cái ác, vẫn kiên định giữ vững nguyên tắc tình thương của mình., quyết “không bỏ tình thương”. Những giọt nước mắt đầy xót thương chảy dài cuối tác phẩm đã cho thấy điều đó.
c. Trước Cách mạng tháng Tám, Nam Cao thuộc thế hệ nhà văn những năm khoảng 1930 đến 1945, họ đã thức tỉnh sâu sắc ý thức cá nhân về sự tồn tại có ý nghĩa của mỗi cá nhân trên đời. Với “Đời thừa”, Nam Cao đã đồng tình với khát vọng được cống hiến, được sáng tạo của người nghệ sĩ chân chính. Qua tấn bi kịch tinh thần của nhà văn Hộ, Nam Cao thể hiện khát vọng của con người vươn tới một cuộc sống có ích, có ý nghĩa, được phát huy cao độ khả năng tiềm tàng chứa đựng trong mỗi con người. Nam Cao bênh vực con người, đặt niềm tin vào con người và lên án hoàn cảnh xã hội tàn nhẫn đã đẩy con người vào những bi kịch vỡ mộng (“Đời thừa”, “Sống mòn”), hoặc vào những trạng thái phi nhân tính (“Chí Phèo”). Từ đó vút lên tiếng kêu khẩn thiết: “Hãy tiêu diệt hoàn cảnh xã hội đen tối, bất công, phi nhân tính đương thời thì mới chấm dứt được những bi kịch đau đớn nói trên”.
d. Tóm lại, tư tưởng nhân đạo thấm nhuần trong sáng tác của Nam Cao. Ở đây, một mặt nhà văn kế thừa tư tưởng nhân đạo truyền thống, mặt khác lại có thêm những nét sâu sắc, mới mẻ. Nam Cao xứng đáng là nhà văn hiện thực xuất sắc, nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn.
4. Những đặc sắc về nghệ thuật.
a. Cách dựng truyện tự nhiên, dung dị nhưng vẫn gây được ấn tượng sâu đậm và tạo được hiệu quả nghệ thuật cao. Cách dẫn truyện linh hoạt, phóng túng mà vẫn nhất quán, chặt chẽ.
   b. Xây dựng thành công một nhân vật thuộc loại nhân vật tư tưởng (Hộ), nhưng vẫn có tính cách, cá tính và bản chất xã hội xác định.
   c. Nghệ thuật miêu tả, phân tích tâm lí đạt tới trình độ bậc thầy (Nam Cao phân tích rất sâu sắc, tinh tế những giằng xé trong tâm trạng nhân vật). Trước hết là những day dứt của Hộ về nghề nghiệp… Sau nữa là những dằn vặt của Hộ về nhân cách. Hộ vốn là một người nhân hậu, vị tha. Trong bất cứ hoàn cảnh nào anh cũng không vứt bỏ tình thương, làm một kẻ tàn nhẫn. Nhưng khi rơi vào khủng hoảng, quẫn bách, anh đã trút hết nỗi uất ức, buồn bực lên vợ con, gây đau khổ cho người mà mình hết lòng yêu thương, rồi sau đó lại tự dày vò, sám hối, ân hận vì chính điều đó.
   - Nam Cao đã khéo léo tạo tình huống đầy kịch tính để đẩy xung đột nội tâm của nhân vật lên đến đỉnh điểm. Hộ lâm vào một mâu thuẫn không thể dung hoà giữa sống với hoài bão nghệ thuật và sống theo nguyên tắc tình thương. Hộ luôn luôn rơi vào bế tắc. Điều đó làm cho anh rơi vào cái vòng luẩn quẩn: khát vọng → thất vọng → nhẫn tâm → hối hận → khát vọng →thất vọng ngày càng nặng hơn.
   d. Ngôn ngữ và giọng văn rất đặc sắc

   Nam Cao rất linh hoạt trong việc sử dụng ngôn ngữ để miêu tả nội tâm. Có đoạn nhà văn dùng lời người kể chuyện để miêu tả nội tâm. Có đoạn nhà văn dùng lời kể chuyện để miêu tả tâm lí nhân vật: “Hắn băn khoăn nghĩ đến một tác phẩm làm mờ hết các tác phẩm khác cùng ra một thời” có khi là lời nhân vật tự biểu hiện nội tâm của mình: “Ta đành phí một vài năm để kiếm tiền”. Có khi, vừa là lời kể chuyện, vừa là lời từ nội tâm nhân vật: “Khốn nạn! Khốn nạn thay cho hắn… Chao ôi!”. Tất cả đã góp phần diễn tả sinh động tâm lí nhân vật Hộ.

Thuật lại một cách ngắn gọn các lần Chí Phèo đến nhà Bá Kiến

Đề 4: Sau khi ở tù về, nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao đã đi đến nhà Bá Kiến mấy lần?
 Anh (chị) hãy thuật lại một cách ngắn gọn mà đầy đủ các lần Chí Phèo đến nhà Bá Kiến. Trong mỗi lần cần làm rõ:
- Hoàn cảnh cụ thể
- Động cơ thúc đẩy
- Phân tích ý nghĩa tư tưởng trong mỗi lần.

ĐÁP ÁN - HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
Mở bài
Chí Phèo sau khi ra tù về sống trong làng Vũ Đại đã được Nam Cao miêu tả đến nhà Bá Kiến ba lần. Qua mỗi lần gặp gỡ ấy đều mang một ý nghĩa riêng và tô đậm thêm giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm.
Thân bài
I. Lần thứ nhất
1. Hoàn cảnh: Sau khi ở tù về một ngày, Chí Phèo đã ra chợ uống rượu với thịt chó từ trưa đến chiều, “say khướt” rồi ngật ngưỡng, hung hăng cầm vỏ chai đến nhà Bá Kiến gọi cả tên tục ra mà chửi.
2. Tường thuật ngắn gọn (Cảnh Chí Phèo đánh nhau với Lí Cường → Chí vừa rạch mặt ăn vạ, vừa kêu làng →Bá Kiến về → Bằng sự lọc lõi của một “con cáo già”, Bá Kiến đã xử nhũn, điều hoà mâu thuẫn, dập tắt cơn giận của Chí → Bá Kiến mổ gà thết đãi cơm rượu xong, còn đãi thêm đồng bạc để về uống rượu → “Chí Phèo vô cùng hả hê” ra về.
3. Động cơ: Chí Phèo đến nhà Bá Kiến với động cơ đập đầu ăn vạ, có bao hàm cả sự trả thù.
4. Phân tích ý nghĩa:
a.  Qua lần gặp gỡ lần đầu tiên này, tính cách tha hoá, lưu manh đã bộc lộ một cách khá đầy đủ trước mắt dân làng Vũ Đại (về mặt nhân hình, về mặt nhân tính: Từ một anh canh điền hiền lành, Chí Phèo đã bị bọn thống trị và nhà tù biến thành một kẻ côn đồ, hung hãn, sẵn sàng đâm chém rạch mặt ăn vạ).
b. Qua đây, ta thấy chế độ thực dân phong kiến đã làm tha hoá, biến chất con người lao động một cách khủng khiếp.
c. Hiện tượng mỉa mai, chua xót mà có thực nói trên (người lao động bị áp bức trở thành lưu manh thì chỉ biết phản ứng mù quáng, liều lĩnh, dễ bị kẻ thù mua chuộc) là một hiện tượng khá phổ biến và có thực trong xã hội cũ. Vạch ra được điều đó chứng tỏ ngòi bút của Nam Cao rất giàu tính hiện thực.
Về phía bọn thống trị: Kẻ thủ phạm mà hiện thân là Bá Kiến qua cảnh này, cũng là lần đầu tiên xuất hiện với bản chất tên cường hào địa chủ lọc lõi, lắm mưu, nhiều kế, rất thâm hiểm.
II. Lần thứ hai
1. Hoàn cảnh:
   Sau khi hết tiền, đến mua quỵt bà hàng rượu, Chí Phèo lại “ngật ngà, ngật ngưỡng” say đến nhà Bá Kiến tuyên bố “đến nhà cụ Bá để đòi nợ đây”.
2. Động cơ:
- Chí Phèo đến để xin cụ Bá “cho con đi ở tù” và nếu không được “thì con phải đâm chết dăm ba thằng, rồi cụ bắt con giải huyện”.
3. Tường thuật:
Trước thái độ hung hãn và liều lĩnh của Chí, cụ Bá đã xúi Chí Phèo đến nhà Đội Tảo để đòi món nợ 50 đồng cho Cụ. Chí Phèo nhận lời đi ngay, các bà vợ Đội Tảo bí mật giấu chồng đưa tiền cho Chí Phèo → thế là “Chí Phèo vênh vênh ra về, hắn thấy hắn oai thêm bậc nữa”. Hắn tự đắc “Anh hùng làng này cóc thằng nào bằng ta”. Cụ Bá đưa cho tên “đầy tớ mới” luôn năm đồng và cho thêm năm sào vườn ở bãi sông vừa cắm thuế của một người trong làng, thế là từ đây, Chí Phèo mặc nhiên trở thành “tay sai đắc lực” cho Bá Kiến.
4. Phân tích, bình luận:
- Về phía nạn nhân:
a. Ở lần “gặp gỡ” này, ta thấy tính cách của Chí Phèo đã có một bước biến đổi. Đó là Chí càng dấn sâu vào con đường lưu manh và trở thành công cụ lợi hại cho lão cường hào, cáo già độc ác.
b. Trong lời cầu khẩn của Chí “thích đi ở tù… ở tù còn có cơm để ăn… về làng một thước cắm dùi không có, chả làm gì nên ăn… không được thì con phải đâm chết dăm ba thằng rồi cụ bắt con giải huyện”, chúng ta thấy được tình trạng cùng cực không có lối thoát của người nông dân lao động nghèo. Ở tù về, “tứ cố vô thân”, vô điền sản, cảnh ngộ ấy đã đẩy người nông dân vào vòng tội lỗi.
- Về phía bọn thống trị:
a. Bản chất gian hùng, nham hiểm của “con cáo già” Bá Kiến cũng đã được tô đậm thêm một bước nữa.
b. Bá Kiến đã có giải pháp cao tay: Đẩy Chí vào một cái bẫy: mượn tay Đội Tảo để giết Chí Phèo và ngược lại. Đó là một thủ đoạn rất gian hùng.
III. Lần thứ ba
Lần này, Chí Phèo đến nhà Bá Kiến với một tâm trạng đặc biệt khác hẳn hai lần trước.
1. Hoàn cảnh:
Sau khi bị Thị Nở cự tuyệt, Chí Phèo lại uống rượu và xách dao ra đi. Bước chân Chí Phèo hôm nay là bước chân của kẻ vừa say, vừa tỉnh.
2. Động cơ
Quằn quại trong đau khổ và tuyệt vọng, Chí Phèo càng thấm thía tội ác của kẻ đã cướp cả hồn người và hình người của mình là Bá Kiến. Nên hôm nay, Chí Phèo ra đi với sự thôi thúc của lòng căm thù và thái độ kiên quyết đòi lương thiện, đòi quyền làm người.
3. Tường thuật:
Trước Bá Kiến, lần này, Chí Phèo có một tư thế và cách nói năng chững chạc, quyết đoán và chủ động hơn. Nghe thấy tiếng lè nhè của Chí, Bá Kiến quát to, tưởng Chí đến vòi tiền uống rượu. Bá Kiến ném bẹt năm hào xuống đất, bảo Chí cầm lấy mà cút đi cho rảnh. Chí Phèo trợn mắt chỉ vào mặt cụ: “Tao không đến đây xin năm hào”. Cụ dịu giọng: “Thôi cầm lấy, tôi không còn hơn”. Chí vênh mặt lên kiêu ngạo: “Tao đã bảo tao không đòi tiền”. Bá Kiến ngạc nhiên đến sửng sốt: “Thế anh cần gì?” “Tao muốn làm người lương thiện”, Chí Phèo lắc đầu: “Không được! Ai cho tao lương thiện… Tao không thể là người lương thiện nữa!” Chí Phèo rút dao xông vào đâm chết Bá Kiến, rồi quay lại tự kết liễu cuộc đời mình: “Hắn giãy đành đạch ở giữa bao nhiêu là máu tươi”.
4. Bình luận:
Lần này thể hiện sự thức tỉnh, sự nhận thức rõ nhất của nhân vật. Và đây cũng là những giờ phút tỉnh táo nhất trong cuộc đời của Chí Phèo.
a. Hành động giết Bá Kiến của Chí hôm nay không phải là hành động giết người của một thằng lưu manh mà là hành động “lấy máu rửa hờn” của một người nông dân đã thức tỉnh về quyền sống.
b. Phát hiện ra ngọn lửa căm thù giai cấp và khát vọng lương thiện cháy bỏng vẫn ẩn giấu đằng sau tâm hồn tăm tối, u mê của Chí, chứng tỏ con mắt nhân đạo của Nam Cao rất sâu sắc.
c. Ý thức nhân phẩm đã trở về , Chí Phèo không bằng lòng kiếp sống thú vật nữa nên đã tìm đến cái chết. Suy cho cùng, thủ phạm chính là Bá Kiến, là toàn bộ xã hội tàn bạo, vô nhân đạo.
d. Phản ứng quyết liệt của Chí Phèo trên đây cho thấy mâu thuẫn gay gắt nghìn đời giữa nông dân và địa chủ là mối mâu thuẫn không thể điều hoà, không thể dập tắt. Điều đó cho thấy ngòi bút hiện thực Nam Cao vô cùng sắc sảo.
e. Chi tiết “Cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa và vắng người lại qua” hiện ra trong tâm trí Thị Nở ở cuối tác phẩm có một vị trí thật đặc biệt. Dường như qua đó, Nam Cao muốn nói với chúng ta: “Chừng nào ở nông thôn còn có bọn cường hào độc ác thì chừng ấy còn nảy sinh ra hiện tượng Chí Phèo”. Giá trị hiện thực sâu sắc và độc đáo của ngòi bút Nam Cao còn được thể hiện ở chỗ phát hiện ra cái quy luật nghiệt ngã đó.
   Tổng kết: Ba lần “gặp gỡ” giữa Chí Phèo và Bá Kiến là những lần đụng đầu quyết liệt giữa hai tính cách: kẻ thống trị và người bị áp bức, bị đày đoạ đến mức không còn là người nữa. Tác phẩm đã phản ánh được một vấn đề quan trọng và bức xúc trong đời sống nông thôn thời ấy. Xã hội thực dân phong kiến đã đày đoạ làm tha hoá con người. Và khi ý thức nhân phẩm trở về thì lại bị xã hội lạnh lùng cự tuyệt quyền làm người, để phải huỷ diệt cuộc sống của mình.
- Nam Cao đã vạch trần tội ác khủng khiếp đó và lên tiếng kêu cứu khẩn thiết: hãy bảo vệ lấy nhân phẩm cho con người và hãy tiêu diệt hoàn cảnh phi nhân tính.
- Nam Cao đã đồng tình và chia sẻ với những nạn nhân đau khổ, đồng thời tìm thấy dưới đáy tâm hồn tưởng như u mê cằn cỗi và tăm tối ấy vấn lấp lánh ánh sáng nhân phẩm; vẫn cháy bỏng một niềm khao khát hạnh phúc, được sống lương thiện và bừng cháy một tinh thần phản kháng

   Kết luận: Đó chính là giá trị hiện thực và nhân đạo vừa sâu sắc, độc đáo, vừa mới mẻ rộng lớn của tác phẩm “Chí Phèo”. Vì vậy, tác phẩm này xứng đáng là một kiệt tác của nền văn học Việt Nam thế kỉ XX.

Quan điểm nghệ thuật của Nam Cao


Đề 3: Quan điểm nghệ thuật của Nam Cao chứng minh rằng Nam Cao đã thực hiện triệt để những quan điểm ấy trong sáng tác của mình
ĐÁP ÁN - HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
I. Quan điểm nghệ thuật của Nam Cao
Nam Cao (1915 - 1951) không chỉ là một nhà văn hiện thực kiệt xuất có tư tưởng nhân đạo phong phú và sâu sắc, mà còn là nhà văn có quan điểm nghệ thuật tiến bộ và nhất quán. Quan điểm này tuy không được phát biểu trực tiếp dưới dạng chính luận, nhưng đã thể hiện rải rác trong các sáng tác của ông.
1. Suốt cuộc đời cầm bút của mình, Nam Cao luôn luôn suy nghĩ về “Sống” và “Viết”. Ban đầu, ông chịu ảnh hưởng sâu nặng của thứ nghệ thuật lãng mạn thoát li thi vị hóa hiện thực, ông đã sáng tác những bài thơ, truyện tình tâm lí, dễ dãi. Nhưng vốn là một nghệ sĩ chân chính, giàu tình thương yêu quần chúng lao khổ, Nam Cao đã sớm nhận ra thứ văn chương thơm tho đó xa lạ với đời sống lầm than của đông đảo quần chúng nghèo khổ xung quanh. Và ông đã đoạn tuyệt với nó, để tìm đến con đường nghệ thuật hiện thực chân chính, “Nghệ thuật vị nhân sinh”. Trong truyện ngắn “Trăng sáng” (1943) được coi là tuyên ngôn nghệ thuật đanh thép, cảm động của Nam Cao, ông đã viết: “Chao ôi! Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật chỉ có thể là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than”. Theo Nam Cao, người cầm bút chân chính không được “trốn tránh” sự thực mà “cứ đứng trong lao khổ, mở hồn ra đón lấy tất cả những vang động của cuộc đời…
2. Nam Cao chủ trương văn học phải chứa đựng nội dung nhân đạo. Tác phẩm văn học có giá trị không chỉ phản ánh sự thực đời sống mà còn phải có giá trị nhân đạo sâu sắc: “Nó phải chứa đựng một cái gì lớn lao mạnh mẽ, vừa đau đớn, vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình… Nó làm cho người gần người hơn…” (Đời thừa).
3. Nam Cao coi lao động nghệ thuật là một hoạt động nghiêm túc, công phu. Đòi hỏi người cầm bút phải có lương tâm, Nam Cao lên án gay gắt sự cẩu thả trong nghề văn “Sự cẩu thả bất cứ nghề gì cũng là một sự bất lương rồi. Nhưng sự cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện” (Đời thừa).
4. Chủ trương văn chương phải miêu tả được hiện thực, phải diễn tả được tiếng lòng đau khổ của quần chúng, Nam Cao cũng không tán thành loại sáng tác “tả chân”, hời hợt “Chỉ tả được cái bề ngoài của xã hội”. Ông chủ trương nghệ thuật là một lĩnh vực hoạt động đòi hỏi phải khám phá, đào sâu, tìm tòi và sáng tạo không ngừng. Qua nhân vật Hộ, trong “Đời thừa”, Nam Cao đã khẳng định “Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một kiểu mẫu đưa cho: Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi, sáng tạo những cái gì chưa có…”.
Sau Cách mạng, trong kháng chiến, Nam Cao say sưa trong mọi công tác không nề hà lớn nhỏ với ý nghĩ dứt khoát, đặt lợi ích cách mạng, dân tộc lên trên hết. Kháng chiến bùng nổ, nhà văn “muốn vứt tất cả bút đi để cầm lấy súng” như một người công dân yêu nước thật sự. Nam Cao nhủ “sống đã rồi hãy viết” và hăng hái lao mình vào phục vụ kháng chiến. (Phân tích thêm quan điểm nghệ thuật của Nam Cao qua truyện ngắn “Đôi mắt”). Trước sau nhà văn vẫn trung thành với một ý nghĩ “góp sức vào việc không nghệ thuận lúc này chính là để sửa soạn cho tôi một nghệ thuật cao hơn”. Đó là một thái độ đúng đắn, đẹp đẽ nhất của người nghệ sĩ chân chính lúc đó.
II. Những quan điểm nghệ thuật đó thể hiện trong các sáng tác của Nam Cao
1. Lên án văn chương lãng mạn thoát li, thi vị hóa hiện thực, chống lại quan điểm nghệ thuật vị nghệ thuật, tác phẩm của Nam Cao đã phản ánh chân thực bộ mặt của đời sống xã hội.
- Bộ mặt tàn bạo, thối nát của bọn thống trị (Bá Kiến).
- Đời sống cực khổ lầm than của người nông dân bị đẩy vào con đường tha hóa, tuyệt vọng (Chí Phèo, Lão Hạc…).
- Những tấn bi kịch tinh thần của người trí thức tiểu tư sản nghèo (Điền, Hộ…).
2. Tác phẩm của Nam Cao chứa chan tinh thần nhân đạo.
- Các tác phẩm của Nam Cao lên án đanh thép những thủ đoạn bóc lột, những hành vi tội ác của giai cấp thống trị, những thành kiến tồi tệ của xã hội.
- Nam Cao bênh vực, khẳng định nhân phẩm của người lao động ngay cả khi họ có hình hài xấu xí (Thị Nở) hoặc bị hủy hoại cả nhân tính lẫn nhân hình (Chí Phèo).
- Ông ca ngợi những tình cảm cao thượng, đẹp đẽ đầy tinh thần vị tha của con người (Hộ).
3. Nam Cao luôn luôn tìm tòi, khám phá, sáng tạo những sản phẩm tinh thần độc đáo cả về nội dung lẫn cách biểu hiện. Ông đã tìm được những vấn đề mới mẻ ngay những đề tài vốn quen thuộc.
- Ở đề tài nông dân, mặc dù đến sau Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, nhưng Nam Cao vẫn đặt ra được một vấn đề hoàn toàn mới. Đó là vấn đề lưu manh hóa một bộ phận nông dân trước Cách mạng.
- Ở đề tài trí thức tiểu tư sản, Nam Cao đặc biệt chú ý đến những tấn bi kịch tinh thần của họ.
4. Những tác phẩm của Nam Cao là những sản phẩm mẫu mực của một quá trình lao động rất nghiêm túc, công phu. Các tác phẩm của ông như “Lão Hạc”, “Chí Phèo”, “Đời thừa”, “Sống mòn”, “Đôi mắt” mãi mãi sẽ là những viên ngọc quý trong kho tàng văn học nước nhà.
III. Kết luận (đánh giá chung)
1. Giữa những xu hướng văn chương thoát li thi vị hóa đời sống hiện thực và chạy theo những thị hiếu tầm thường của một số ít độc giả trước đây, quan điểm nghệ thuật của Nam Cao vừa đúng đắn, tiến bộ, vừa có ý nghĩa chiến đấu rõ rệt.

2. Với quan điểm nghệ thuật tiến bộ, đầy tính chất nhân văn và tài năng của mình, Nam Cao đã có một ảnh hưởng và những cống hiến lớn lao cho nền văn học Việt Nam hiện đại, xứng đáng được tôn vinh là một hiện tượng văn học không thể thay thế được. 

Trình bày phong cách nghệ thuật Nam Cao

Đề 2: Trình bày phong cách nghệ thuật Nam Cao
Mở bài:
Nam Cao (1915 – 1951) là một nhà văn hiện thực lớn có tư tưởng nhân đạo sâu sắc, mới mẻ, có phong cách nghệ thuật độc đáo.
Thân bài:
1. Nam Cao thường viết về những cái nhỏ nhặt, xoàng xĩnh, tầm thường trong đời sống hằng ngày, từ đó đặt ra những vấn đế có ý nghĩa xã hội to lớn, những triết lý sâu sắc về con người, cuộc sống và nghệ thuật. Truyện của Nam Cao, tuy giàu triết lý, nhưng triết lý mà không khô khan, vì nó xuất phát từ cuộc sống thực và từ tâm tư đau đớn dằn vặt của tác giả.
2. Nam Cao có tài đặc biệt trong việc phân tích và diễn tả tâm lý nhân vật. Ông có hứng thú khám phá “con người trong con người”. Ngòi bút của ông có thể thâm nhập vào những quá trình tâm lý phức tạp, những ngõ ngách sâu kín nhất của tâm hồn con người; từ đó, dựng lên được những nhân vật – tư tưởng vừa có tầm khái quát lớn vừa có cá tính độc đáo. Theo dòng cảm nghĩ của nhân vật, mạch tự sự của tác phẩm Nam Cao thường đảo lộn trật tự tự nhiên của thời gian, không gian tạo nên lối kết cấu vừa linh hoạt vừa hết sức chặt chẽ.
3. Cũng vì am hiểu sâu sắc tâm lý nhân vật mà Nam Cao đã tạo được nhiều đoạn đối thoại và độc thoại nội tâm rất chân thực, sinh động.
4. Truyện của Nam Cao luôn luôn thay đổi giọng điệu, có khi là giọng tỉnh táo và sắc lạnh; có khi là giọng trữ tình đằm thắm, sôi nổi nặng trĩu yêu thương. Hai giọng văn đối lập nhau cứ chuyển hóa qua lại, tạo nên những trang viết thú vị, hấp dẫn.
Kết luận:           

Nam Cao cũng đã có những đóng góp rất lớn trong việc làm hiện đại hóa văn xuôi Việt Nam với một ngôn ngữ phong phú, sinh động, uyển chuyển tinh tế rất gần gũi với lời ăn, tiếng nói của quần chúng, ông xứng đáng là một trong những nhà văn hiện thực lớn nhất của văn học Việt Nam thế kỷ XX.

Nét chính về sự nghiệp văn học của Nam Cao

Đề 1: Những nét chính trong sự nghiệp văn học của Nam Cao

ĐÁP ÁN - HƯỚNG DẪN LÀM BÀI

Nam Cao (1915 – 1951) tên thật là Trần Hữu Tri ở làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Sang, Phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nam (Nay là xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam) được độc giả công nhận là một nhà văn hiện thực lớn, có tư tưởng nhân đạo vừa sâu sắc, vừa rộng lớn, vừa độc đáo, mới mẻ và là người đã góp phần vào việc cách tân nền văn xuôi Việt Nam theo hướng hiện đại.
Sự nghiệp sáng tác của Nam Cao có thể chia làm hai giai đoạn:
   A. Trước Cách mạng tháng Tám
   1. Từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, Nam Cao đã mơ ước sáng tác. Những sáng tác của ông lúc này còn mang nặng khuynh hướng lãng mạn, thoát li thi vị hóa hiện thực mà sau này ông đã tự phê phán cho đó là thứ văn chương “như ánh trăng lừa dối”. Ông kí các bút danh Thúy Rư, Xuân Du, Nhiêu Khê, Nguyệt… chỉ mãi đến năm 1941, khi truyện ngắn “Chí Phèo” ra đời, Nam Cao mới chuyển hẳn sang trường phái hiện thực theo con đường “nghệ thuật vị nhân sinh” để kế tục những tên tuổi lừng danh như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng.
2. Những sáng tác của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám tập trung vào hai đề tài chính: Cuộc sống của những người tiểu tư sản nghèo và cuộc sống của người nông dân. Dù viết về đề tài nào, thì điều mà Nam Cao quan tâm trước tiên và day dứt nhất là tình trạng con người lao động bị tha hóa, bị xói mòn về nhân phẩm, thậm chí bị hủy diệt cả nhân tính, trong cái xã hội phi nhân đạo đương thời.
3. Về đề tài trí thức tiểu tư sản, đáng chú ý là các truyện ngắn: “Trăng sáng”, “Đời thừa”, “Truyện tình”, “Mua nhà”, “Nước mắt”, “Quên điều độ”, “Những truyện không muốn viết”… và tiểu thuyết “Sống mòn” (1944)… Trong những tác phẩm này, Nam Cao đã miêu tả hết sức chân thực và cảm động tình trạng nghèo khổ, sống dở, chết dở của người trí thức nghèo. Qua đó, tác giả còn đặc biệt đi sâu vào những tấn bi kịch tâm hồn của họ. Đó là tấn bi kịch dai dẳng, thầm lặng mà đau đớn của những con người có ý thức sâu sắc về giá trị sự sống và nhân phẩm; có hoài bão lớn về một sự nghiệp tinh thần cao cả, nhưng lại bị gánh nặng cơm áo và cuộc sống tàn nhẫn đầy rẫy bất công vô lí, đẩy họ vào cảnh “chết mòn” về tinh thần và cuộc sống “đời thừa”. Phê phán cái xã hội phi  nhân đạo đã bóp nghẹt sự sống và tàn phá tâm hồn con người, Nam Cao đồng thời cũng thể hiện niềm khao khát hướng tới một cuộc sống đẹp đẽ xứng đáng với con người.
4. Ở đề tài người nông dân: Là nhà văn sinh ra và lớn lên nơi chốn bùn lầy nước đọng, Nam Cao hiểu biết khá sâu sắc cuộc sống những con người thấp cổ, bé họng này. Ông đã để lại chừng hai chục truyện ngắn có giá trị về đề tài nông dân, đáng chú ý là “Lão Hạc”, “Chí Phèo”, “Mua danh”, “Một bữa no”, “Một đám cưới”, “Điếu văn”, “Dì Hảo”, “Tư cách mõ”, “Nửa đêm”, “Trẻ con không được ăn thịt chó”, “Lang Rận”, … Qua những tác phẩm trên, Nam Cao vừa mô tả một cách thấm thía và cảm động những số phận tăm tối, hẩm hiu, bị ức hiếp, bị tha hóa, bị lăng nhục của người nông dân vừa kết án sâu sắc cái xã hội tàn bạo, đã tàn phá cả thể xác lẫn linh hồn của họ, đồng thời phát hiện và khẳng định phẩm chất lương thiện đẹp đẽ của họ ẩn giấu đằng sau những tâm hồn tưởng như tối tăm và cằn cỗi đó. Chiều sâu mới mẻ của ngòi bút hiện thực và nhân đạo của Nam Cao chính là ở đấy.
5. Nam Cao đã không thấy được khả năng đổi đời của người nông dân và triển vọng xã hội.Tuy vậy, trong truyện ngắn “Điếu văn” (1944), Nam Cao đã có lời chào đón chân thành, tha thiết, tia ánh sáng bình minh đang bừng dậy ở  chân trời “Cuộc đời không thể cứ mù mịt mãi mãi thế này đâu… Một rạng đông đã báo rồi”!.
B. Sau Cách mạng tháng Tám:
1. Nam Cao là một trong số ít nhà văn đã đến với Cách mạng từ đầu. Năm 1948 ông được kết nạp vào Đảng. Ông tham gia hội Văn hóa cứu quốc, tích cực hoạt động Cách mạng và kháng chiến.
2. Nam Cao được xem là một trong những cây bút tiêu biểu nhất trong những năm đầu cuộc kháng chiến chống Pháp. Thời kì này, ông viết được nhiều tác phẩm có giá trị như Nhật kí “Ở rừng” (1948), kí sự “Chuyện biên giới” (1950), đặc biệt là truyện ngắn “Đôi mắt” (1948) ra đời giữa lúc giới văn nghệ đang vất vả “nhận đường” là một thành công xuất sắc của văn nghệ kháng chiến lúc đó. Thông qua việc phê phán một nghệ sĩ có “Đôi mắt” lệch lạc trong việc nhìn người, nhìn đời, có lối sống trưởng giả, kênh kiệu, nhởn nhơ, lạc lõng giữa cuộc kháng chiến sôi nổi của toàn dân tộc và khẳng định một nghệ sĩ mới dứt khoát từ bỏ con người cũ, lối sống cũ và quyết tâm “cách mạng hóa tư tưởng, quần chúng hóa sinh hoạt”, trở thành người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa, “Đôi mắt” xứng đáng là một tuyên ngôn nghệ thuật của tầng lớp văn nghệ sĩ tiểu tư sản đi theo kháng chiến.

Kết luận: Năm 1951 trên đường về quê công tác, ông bị kẻ thù phục kích giết chết, giữa khi tài năng đang độ nở rộ. Nam Cao đã ngã xuống trong tư thế người nghệ sĩ - chiến sĩ. Ông hoạt động văn học chỉ vẻn vẹn dưới 10 năm, nhưng đã để lại một sự nghiệp văn học to lớn. Nam Cao được đánh giá là nhà văn đứng ở vị trí hàng đầu trong nền văn xuôi Việt Nam thế kỉ XX và xứng đáng được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học - nghệ thuật (Đợt I năm 1996). Cuộc đời lao động nghệ thuật vì lý tưởng nhân đạo, lí tưởng cách mạng và sự hi sinh anh dũng của Nam Cao mãi mãi là tấm gương cao đẹp của một nhà văn  - chiến sĩ.