25 tháng 7 2015

Bình giảng khổ đầu bài thơ Tống biệt hành


Đề: Bình giảng khổ thơ sau trong bài “Tống biệt hành” của Thâm Tâm
“Đưa người ta không đưa qua sông
 Sao có tiếng sóng ở trong lòng   
 Bóng chiều không thắm, không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?”
ĐÁP ÁN- HƯỚNG DẪN LÀM BÀI

I. Giới thiệu vài nét về tác giả, bài thơ
1. Thâm Tâm (1917-1950) tên khai sinh là Nguyễn Tuấn Trình, sinh tại thành phố Hải Dương. Ông viết cả thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch nói, nhưng thành công hơn cả vẫn là thơ. Thơ ông có chất giọng riêng, nhất là những bài “hành”, giọng thơ cứng cáp, phảng phất hơi thơ cổ, tuy “Vẫn đượm chút bâng khuâng, khó hiểu của thời đại”.
2. “Tống biệt hành” (1940) là bài thơ tiêu biểu nhất của Thâm Tâm, được viết theo thể “hành”, một thể thơ cổ, không có sự quy định chặt chẽ về số câu, số chữ, vần điệu, có sự đan xen giữa thanh trắc và thanh bằng.
Nhờ đó mà rất thích hợp cho việc diễn tả những cảm xúc vừa ngang tàng, cứng cỏi, vừa bâng khuâng, lưu luyến, dư ba. Ở bài thơ này, Thâm Tâm dùng để khắc hoạ hình ảnh một li khách dứt khoát lên đường mong thực hiện chí lớn, và có trái tim, nặng lòng thương nhớ người thân.

II. Phân tích, bình giảng đoạn thơ
1. Vài nét về đề tài chia li trong thơ ca.
2. Bài thơ “Tống biệt hành” của Thâm Tâm đã vượt lên tất cả để trở thành một bài thơ độc đáo và khá nổi tiếng của thơ ca lãng mạn 1930- 1945. Khổ thơ ta bình giảng trên đây đã kết tinh nét đặc sắc của bài thơ.
3. Bốn câu đầu của bài thơ thể hiện cảnh chia li của kẻ ở người đi qua hồi tưởng của người ở lại.
a. Hai câu đầu như một nghịch lí: Không đưa qua sông mà trong lòng lại có tiếng sóng? “Tiếng sóng ở trong lòng” là nỗi niềm chia li đầy bâng khuâng, xao xuyến, buồn thương trào dâng trong lòng mỗi người: kẻ ở- người đi. Câu thơ đầu toàn thanh bằng trầm lắng như tiếng lòng của người đưa tiễn. Ở câu hai, đột ngột nổi lên 4 âm thanh trắc (có tiếng sóng ở) “tưởng như có tiếng sóng thật trong lòng người và nghe trong tiếng sóng như có hơi lạnh của gió sông”.
b. Hai câu thơ tiếp theo lại là một nghịch lí nữa. Buổi chiều tiễn đưa không có gì đặc biệt (nắng không gay gắt “không tươi thắm hay vàng vọt”) vẫn bình thường như mọi chiều khác, ấy thế mà trong mắt người ra đi vẫn đẫm màu hoàng hôn. (Chú ý bình kĩ hai chữ “hoàng hôn” mang tính biểu tượng trong khổ thơ).
     Tiểu kết:
a. Xưa nay, trong thơ cổ điển thường sử dụng các hình ảnh “dòng sông”, “bến đò”, “bóng chiều”, “hoàng hôn” để miêu tả cảnh li biệt. Ở đây, Thâm Tâm phủ định những thi liệu cổ dường như nhằm chọi lại thi pháp thơ cổ và tạo nên sự hiện diện của những cái không có, tạo cho lời thơ hàm súc, dư ba.
b. Bốn câu thơ tạo thành hai câu hỏi cân đối, hài hoà và đều mở bằng từ “sao” đầy ngỡ ngàng, thảng thốt.
c. Thâm Tâm đã trực tiếp miêu tả nội tâm, không cần đến ngoại cảnh.
d. Đoạn thơ đã sử dụng hàng loạt điệp âm “đưa người”, “đưa qua sông”, “không thắm”, “không vàng vọt” … là một cấu trúc chặt chẽ cân đối, có nhịp điệu và rất nghệ thuật, tạo cho đoạn thơ cái nét độc đáo này: vừa có giọng rắn rỏi, hiên ngang, vừa dâng đầy cảm xúc thiết tha.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét