25 tháng 7 2015

Bình giảng khổ thơ 2 trong bài Đây thôn vĩ dạ

Đề 3: Bình giảng khổ thơ sau đây trong bài “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử.
“Gió theo lối gió, mây đường mây
  Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
  Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
  Có chở trăng về kịp tối nay?”

ĐÁP ÁN - HƯỚNG DẪN LÀM BÀI

I. Giới thiệu vài nét về hoàn cảnh sáng tác, bài thơ và vị trí đoạn trích
1. Bài thơ được viết ra từ hai nguồn cảm hứng: thứ nhất là cảm hứng đẹp với một vùng quê ven bờ sông Hương, cây cối tốt tươi, thơ mộng. Cảm hứng thứ hai theo nhà thơ Quách Tấn đó là mối tình đơn phương nhiều mơ ước với Hoàng Cúc.
2. “Đây thôn Vĩ Dạ” là một bài thơ rất nổi tiếng của Hàn Mặc Tử, in trong tập “Thơ điên”. Bài thơ không chỉ làm rạng danh cho một thi sĩ tài hoa, đa cảm nhưng cuộc đời gặp nhiều cảnh ngộ éo le, bất hạnh mà còn góp phần tô điểm cho một xứ sở vốn đã nổi tiếng của Huế:
                                       “Đây xứ mơ màng, đây xứ thơ”.
3. Bài thơ gồm ba khổ: Khổ một là vẻ đẹp mới mẻ, tinh khôi, chứa chan sức sống của khu vườn trong ánh ban mai. Khổ hai: bầu trời, sông nước Vĩ Dạ trong tâm trạng buồn, chia li tuyệt vọng và đau đáu một nỗi khát khao gặp gỡ của Hàn Mặc Tử.
II. Bình giảng khổ thơ
1. Bình giảng hai câu đầu:
                                       “Gió theo lối gió, mây đường mây
                                       Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
Tiếp theo khổ một đặc ả vẻ đẹp trong sáng, thơ mộng, tràn đầy sức sống của vườn thôn Vĩ vào buổi sớm mai, khổ hai đã mở rộng ra khung cảnh bầu trời, sông nước Vĩ Dạ. Bài thơ dường như có sự vận động từ ngoại cảnh vào tâm cảnh. Vì thế, bầu trời sông nước cũng nhuốm đầy tâm trạng thi nhân. Cảnh vật xuất hiện với bốn hình ảnh: “gió”, “mây”, “dòng nước”, “hoa bắp”. Hai hình ảnh “gió”, “mây” ở đây trở nên chia lìa, trái tự nhiên, không hoà nhập: “gió một đường, mây một nẻo” này được thể hiện theo logic của tâm trạng buồn, cô đơn vì mối tình ở dạng “đơn phương”, “vô vọng” của nhà thơ với Hoàng Cúc. Chú ý phân tích các điệp từ, cách ngắt nhịp câu thơ đã làm nổi bật cảm xúc trên.
Câu thơ thứ hai với hai hình ảnh “dòng nước” và  “hoa bắp” cũng đã tiếp tục tô đậm thêm tâm trạng thi nhân: buồn lặng lẽ, hiu hắt, có thể hiểu hai câu thơ ở khổ thơ này vừa tả cảnh, vừa tả tình trong cảnh và cả nhịp điệu của cảnh: Tình buồn chia li, sầu tủi, hiu hắt. Cảnh êm đềm phẳng lặng, nhịp điệu cảnh: “Cái nét trầm tư chẳng nơi nào có được của Huế đẹp và thơ”.
2. Bình giảng hai câu sau:
Cùng với cảm giác chia lìa, mạch thơ đã chuyển hẳn một thế giới thôn Vĩ thực và tràn trề ánh nắng ở khổ 1 sang một thế giới mộng, tắm đẫm ánh trăng ở khổ 2:
                                       “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
                                       Có chở trăng về kịp tối nay?

Trăng dưới ngòi bút tài hoa của Hàn Mặc Tử bỗng trở nên huyền ảo, tràn đầy vũ trụ tạo nên một không khí nửa thực nửa hư, như trong cõi mộng. Trăng vốn là biểu tuợng cho cái đẹp, cho hạnh phúc, niềm vui. Với Hàn Mặc Tử, trong bối cảnh lúc đó, trăng có ý nghĩa như “một bám víu duy nhất, như người bạn tri âm, tri kỉ”, giờ chỉ còn là nỗi ước ao, khát khao gặp gỡ và nỗi niềm lo âu về sự muộn màng, dang dở. Vì thế, câu thơ của Tử cất lên như một câu hỏi đau đáu một nỗi niềm day dứt đầy phấp phỏng “Có chở trăng về kịp tối nay?”

1 nhận xét: