24 tháng 7 2015

Bình giảng khổ thơ 4 bài Thơ duyên

Đề 7: Phân tích - bình giảng khổ thơ sau trong bài “Thơ duyên” của Xuân Diệu:
                                       “Mây biếc về đâu bay gấp gấp
                                       Con cò trên ruộng cánh phân vân
                                       Chim nghe trời rộng giang thêm cánh
                                       Hoa lạnh chiều thưa sương xuống dần
                                                                           (Văn học 11- tập I trang 129)
MUA SÁCH TẠI ĐÂY! ÔN THI ĐẠI HỌC MÔN NGỮ VĂN!
                             
ĐÁP ÁN - HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
I. Vài nét về tác giả, bài thơ và vị trí đoạn trích
1. Vài nét về nhà thơ Xuân Diệu và bài thơ “Thơ duyên” (xem đề trên)
2. Đoạn trích - nội dung và vị trí của đoạn thơ (khổ thơ)
Khổ thơ này là khổ thơ thứ 4 của bài thơ. Nội dung chính của nó: cảnh chiều thu chuyển dần theo thời gian, đi vào thời khắc hoàng hôn, giữa thiên nhiên và thiên nhiên qua cái tôi yêu đời, khát khao giao cảm của Xuân Diệu càng có sự giao cảm, cảm thông kì diệu.
II. Bình giảng đoạn thơ
1. Hai câu đầu:
                                       “Mây biếc về đâu bay gấp gấp
                                       Con cò trên ruộng cánh phân vân
Hình ảnh thơ trên rất quen thuộc đặc trưng cho thơ cổ điển phương Đông. Nhưng chiều sâu cảm xúc và cách biểu hiện đã có sự khác biệt rất xa. Đúng như nhà phê bình Hoài Thanh đã từng nhận xét: “Từ cánh cò của Vương Bột lặng lẽ bay với ráng chiều đến con cò của Xuân Diệu không bay mà cánh phân vân, có sự cách biệt hơn một ngàn năm và hai thế giới” (Thi nhân Việt Nam- trang 104). Sự cách biệt của hai thế giới là gì vậy? Thế giới của thơ Đường là thế giới của cái ta, cái chung cộng đồng. Ý thức thế hệ phong kiến không chấp nhận cái tôi cá nhân. Cái tôi cá nhân ít để lại dấu ấn trong thơ vì cái tôi ấy bị tan biến trong cái ta, trong vũ trụ vĩnh hằng và thiên nhiên trong thơ thường chung chung, thời nào cũng vậy. Câu thơ nổi tiếng của Vương Bột là một ví dụ điển hình:
                                       “Lạc hà dữ cô lộ tề phi
                                       Thu thuỷ cộng trường thiên nhất sắc”
                                       (Chiếc cò cùng với ráng sa
                                       Sông thu cùng với trời xa một màu
Hai câu thơ này thể hiện một cái nhìn hoà nhập, mang tính chất nhất thể hoá thiên nhiên vũ trụ. Còn hình ảnh thơ câu Xuân Diệu: trạng thái “phân vân” không biết bay cao hay bay thấp; bay lên hay bay xuống… của cánh cò cũng như cái “gấp gấp” vội vã của làn “mây biếc”, cùng với hai chữ “về đâu” rất gợi cảm đã thể hiện rất rõ cái tôi trữ tình của thi sĩ. Đó là một tâm trạng rất riêng biệt, điển hình của thơ mới mà ta ít gặp trong thơ cổ điển. Nó biểu hiện cái tôi đã ý thức được rõ rệt về thời gian và sự hữu hạn của kiếp người. Vì thế, câu thơ của Vương Bột tả cái động mà vẫn tĩnh. Còn Xuân Diệu tả cái tĩnh mà lại động.
2. Hai câu sau:
                                       “Chim nghe trời rộng giang thêm cánh
                                       Hoa lạnh chiều thưa sương xuống dần
càng tô đậm thêm sự giao hoà, cảm thông, sự đưa duyên giữa thiên nhiên và thiên nhiên qua cái tôi cô đơn và rất mực yêu đời của Xuân Diệu. Nhà thơ dường như nhận thức thấy được cái cảm giác trống trải, rợn ngợp của con chim trước bầu trời cao rộng đã giang rộng đôi cánh để hoà điệu với cảm giác se lạnh của bông hoa khi sương chiều buông xuống dần. “Sự bồng bột của Xuân Diệu có lẽ đã phát biểu ra một cách đầy đủ hơn cả trong những rung động tinh vi này” (Hoài Thanh).

0 nhận xét:

Đăng nhận xét