24 tháng 7 2015

Bình giảng đoạn thơ 2 bài Đây mùa thu tới

Đề 3:Bình giảng đoạn thơ sau đây trong bài “Đây mùa thu tới” của Xuân Diệu.
Hơn một loài hoa đã rụng cành,
Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh,
 Những luồng run rẩy rung rinh lá…
Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh”.

                              ĐÁP ÁN - HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
A.     Yêu cầu
   - Có thể bình giảng theo trật tự từng câu thơ, cũng có thể bổ dọc để bình giảng theo những ý lớn của khổ thơ. Dù bình giảng theo cách nào thì thí sinh vẫn phải làm nổi bật cảm xúc trữ tình, cách cảm nhận thiên nhiên tinh tế, mới mẻ của Xuân Diệu và những nét đặc sắc về phương diện nghệ thuật của đoạn thơ.
   - Nắm vững kĩ năng bình giảng một đoạn thơ, diễn đạt mạch lạc, văn viết trong sáng.
   B. Ý chính cần có
Ý1: Giới thiệu bài thơ và vị trí của đoạn thơ:
- “Đây mùa thu tới” được rút từ tập “Thơ thơ”, xuất bản năm 1938, tập thơ đầu tay của Xuân Diệu.
- Bài thơ bộc lộ cảm xúc trữ tình của Xuân Diệu qua bức tranh miêu tả bước đi của đất trời ở thời điểm chuyển mùa từ nóng qua lạnh, từ hạ sang thu. Đây là một trong những tác phẩm thể hiện đấy đủ nhất cách cảm nhận thiên nhiên tinh tế, mới mẻ và nghệ thuật thơ đầy tính cách tân của một tác giả được gọi là “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới” (Hoài Thanh).
- Bài thơ gồm bốn khổ. Đoạn thơ mà ta bình giảng là khổ thơ thứ hai, có vị trí đặc biệt trong mạch vận động của thi tứ.
Ý2: Tâm trạng trữ tình và cách cảm nhận thiên nhiên tinh tế của Xuân Diệu.
a. So với khổ thơ mở đầu, ở khổ thơ thứ hai này, cảnh thu được mở rộng. Nhưng bước đi của thiên nhiên vẫn được cảm nhận chủ yếu ở phía cận cảnh. Trong vườn: hoa rụng, cây cối đổi sắc, những luồng gió lạnh tràn về, lá “run rẩy rung rinh”, tất cả như đang chia lìa, rời bỏ nhau để cuối cùng chỉ còn trơ lại “đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh”. Cảnh mở ra trong không gian mà nói được bước đi của thời gian. Chi tiết nào cũng gợi buồn. Tất cả hợp lại thành bức tranh thiên nhiên thấm đẫm tâm trạng của cái tôi nhạy cảm với sự sống và khát khao giao cảm với đời.
b. Hai câu trước của khổ thơ nói về những thay đổi của thiên nhiên được cảm nhận chủ yếu qua thị giác. Bằng mắt thường có thể nhìn thấy hoa rụng. Cũng có thể quan sát bằng mắt thường cảnh “trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh”. Chữ “rũa” có bản viết “rủa”. Viết là “rủa” câu thơ làm nổi bật sự tương phản, xung đột giữa “sắc đỏ” và “màu xanh”. Có người nói Xuân Diệu đã mượn cách diễn đạt của văn chương Pháp.  Chữ “rũa” lại có nghĩa là bào mòn, mài mòn dần. “Sắc đỏ” đang bào mòn dần “màu xanh”. Viết như thế, câu thơ gợi tả được thay đổi, sự ngả màu, có cả cái gi như là sự tan rã đang diễn ra âm thầm mà dữ dội trong thiên nhiên. Dù viết thế nào thì ý thơ vẫn nói về sự thay đổi. Cảnh tàn mà vẫn tươi, vẫn trong sáng, vì “sắc đỏ” là màu rực rỡ, thuộc gam màu nóng.
c. Ở hai câu thơ sau, sự thay đổi của thiên nhiên được diễn tả bằng một chi tiết tạo hình độc đáo giống như bức vẽ bằng mực nước theo kiểu hội hoạ phương Đông. Trên cái nền tương phản, xung đột giữa “sắc đỏ” và “màu xanh”, nổi lên vài nhánh cây khô gầy guộc, mỏng manh, với mấy chiếc lá còn sót lại đang run rẩy trước gió, chuẩn bị lìa cành. Đang có hai cách hiểu về câu thơ thứ ba. Cách hiểu thứ nhất: những luồng gió làm lá “run rẩy rung rinh”. Vẫn là hình ảnh có thể nhìn thấy bằng mắt thường nhưng cái nhìn thị giác đang chuyển dần vào cái nhìn nội tâm. Bởi vì, lá “run rẩy rung rinh” là hình ảnh nhân hoá, làm nổi bật cái lạnh được cảm nhận bằng xúc giác. Cách hiểu thứ hai: có “những luồng run rẩy”, luồng sống đang “rung rinh” trong gân lá, cuống lá. Sự vận động này không nhìn thấy bằng mắt thường, mà chỉ có thể cảm nhận bằng da thịt. Hiểu theo cách nào thì trước mắt ta vẫn là một hình ảnh thiên nhiên nói lên hồn thơ rất riêng của Xuân Diệu. Nhìn vào đâu, Xuân Diệu cũng thấy có một sự sống đang phập phồng, run rẩy. Sự sống ấy được nhà thơ cảm nhận tinh tế bằng tất cả các giác quan, trong đó có xúc giác. Hai câu thơ, 14 tiếng mà đã có tới 10 tiếng diễn tả ấn tượng của xúc giác. Ở câu thơ trên, thì đó là 4 tiếng láy phụ âm “run rẩy rung rinh”. Sáu tiếng câu dưới nếu tách riêng, tiếng nào cũng có khả năng gợi tả cái gầy để tăng cường ấn tượng về cái lạnh được cảm nhận bằng xúc giác: “nhánh” - “khô” - “gầy” - “xương” - “mỏng manh”.
Ý3: Tổ chức lời thơ của Xuân Diệu hết sức mới mẻ
Xuân Diệu đưa vào thơ lối nói rất “Tây”: “Hơn một loài hoa”… Tổ chức lời thơ của ông thường có khuynh hướng xoá nhoà ý nghĩa biểu vật cụ thể để diễn tả cái mong manh, mơ hồ và làm tăng ý nghĩa biểu cảm: “Những luồng run rấy rung rinh lá”. Xuân Diệu sử dụng thành công kĩ thuật láy phụ âm mà ông học được ở thơ ca Pháp “run rẩy rung rinh”.
Kết luận:

Có thể khẳng định: Khổ thơ bình giảng là khổ thơ đặc sắc nhất của tác phẩm.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét