24 tháng 7 2015

Bình giảng khổ thơ hai trong bài Tràng giang

Đề 2: Bình giảng đoạn thơ sau đây trong bài “Tràng giang” của Huy Cận
                                       “Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu
                                       Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều
                                       Nắng xuống, trời lên sâu chót vót
                                       Sông dài, trời rộng, bến cô liêu”.

ĐÁP ÁN - HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
 I. Giới thiệu chung về bài thơ và vị trí đoạn trích
1. “Tràng giang” được in trong tập “Lửa thiêng” (1940), là bài thơ vào loại nổi tiếng của Huy Cận, đồng thời cũng là kiệt tác của thơ hiện đại Việt Nam.
2. Trong bài thơ tác giả đã thể hiện tâm trạng cô đơn của mình trước cuộc đời, trước vũ trụ bằng một bút pháp vừa cổ điển, vừa hiện đại. Khổ thơ bình giảng là khổ thứ hai trong bài thơ. So với các khổ thơ khác, ở đây, nỗi buồn có những sắc điệu riêng và đối tượng miêu tả cụ thể cũng có những nét khác biệt.
II. Bình giảng hai câu đầu khổ thơ
1. Hai câu thơ chứa đựng những nét chấm phá về cái bãi cồn trên sông. Không gian hầu như vắng lặng, cảnh vật nhuốm vẻ đìu hiu, tàn tạ, thể hiện sâu sắc nỗi lòng nhân vật trữ tình: buồn sầu, cô đơn, khát khao được nghe những tiếng vọng thân thiết của cuộc đời.
2. Các từ láy “lơ thơ” và “đìu hiu” được dùng rất đắt, vừa có giá trị tạo hình, vừa giàu khả năng biểu đạt tâm trạng. Riêng từ “đìu hiu” gợi nhớ đến một câu thơ trong “Chinh phụ ngâm” (“Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò”). Trong câu thứ hai, sự xuất hiện của “Tiếng làng xa vãn chợ chiều” chỉ làm cảnh buồn hơn  bởi đây chỉ là “âm thanh” vọng lên từ tâm tưởng, từ niềm khao khát của nhà thơ. (Chú ý việc cắt nghĩa câu thứ hai phụ thuộc phần lớn vào cách hiểu từ “đâu”, hiểu “đâu” là “không có” hay “đâu đây” đều có những căn cứ nhất định. Vì vậy, nên để chừa một “khoảng trống” cho sự phát biểu cảm nhận riêng của thí sinh).
III. Bình giảng hai câu cuối của khổ thơ
1. Hai câu thơ mở ra một không gian miêu tả ra nhiều chiều với hình ảnh của nắng xuống, trời lên, sông dài, bến vắng. Theo hướng mở rộng đó của không gian, nỗi sầu của nhân vật trữ tình như được lan toả ra đến vô cùng, không có cách gì xoa dịu được.

2. Hình thức đối của cổ thi được sử dụng khá linh hoạt trong hai câu thơ tạo nên sự hài hoà về hình ảnh và nhịp điệu. Cùng với việc vẻ ra những chuyển động ngược hướng (nắng xuống, trời lên) ở câu thứ ba, tác giả đã dùng dấu phẩy ngắt câu thơ thứ tư thành ba phần, biểu thị ba hình ảnh độc lập (sông dài, trời rộng, trời rộng, bến cô liêu). Nhờ lối diễn tả này, tính chất phân li của cuộc đời được tô đậm thêm. Cách kết hợp từ trong câu ba cũng hết sức đáng chú ý. Khi viết “sâu chót vót”, tác giả không chỉ muốn diễn tả độ cao của bầu trời mà còn muốn biểu hiện cảm giác chơi vơi, rợn ngợp của con người khi đối diện với cái hun hút, thăm thẳm của vũ trụ (rất có thể từ “sâu” chợt đến trong liên tưởng thơ của thi sĩ khi ông nhìn thấy cảnh phản chiếu vời vợi của bầu trời xuống mặt nước).

0 nhận xét:

Đăng nhận xét