22 tháng 7 2015

Bình giảng đoạn thơ trong bài Việt Bắc

Đề 5: Bình giảng đoạn thơ sau đây trong bài  “Việt Bắc” của Tố Hữu:
“Ta về mình có nhớ ta
Ta về, ta nhớ những hoa cùng người.
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hoà bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung”
                                                         (Văn học 12, tập I, trang 156)

ĐÁP ÁN- HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
Những ý chính cần có:
I. Cách phân tích- bình giảng đoạn thơ
Đối với cấu trúc cụ thể của đoạn thơ này, chúng ta có thể làm theo hai cách: Bình giảng vẻ đẹp riêng của bức tranh thiên nhiên Việt Bắc và vẻ đẹp của con người với công việc của họ; hoặc bình giảng từng cặp lục bát. Dù làm theo cách nào thì bài làm cũng phải nêu bật được nội dung cảm xúc và thành công nghệ thuật, những nét đặc sắc trong cấu trúc, cách dùng từ, tiết tấu, nhịp điệu… của tác giả. Ở đây chúng ta bình giảng theo cách thứ hai.
II. Giới thiệu khái quát bài thơ Việt Bắc và vị trí của đoạn trích
- Bài thơ “Việt Bắc” được sáng tác vào tháng 10 năm 1954, khi Trung ương Đảng, Chính phủ, Bác Hồ và cán bộ kháng chiến giã từ chiến khu Việt Bắc trở về Thủ đô Hà Nội.
- Thông qua cuộc đối đáp có tính chất tưởng tượng giữa đồng bào Việt Bắc và người cán bộ kháng chiến về xuôi, mà thực chất là lời độc thoại nội tâm của chính tác giả như thể người yêu đưa tiễn người yêu đầy lưu luyến, vấn vương, Tố Hữu đã tái hiện được bức tranh kháng chiến và tình cảm gắn bó ân tình giữa miền ngược với miền xuôi, giữa nhân dân với cách mạng.
- Đoạn thơ bình giảng nằm ở phần một của bài thơ, là lời người ra đi nói với người ở lại về tấm lòng của mình với cảnh và người Việt Bắc. Đoạn thơ đã kết tinh được những nét đặc sắc của bài thơ và phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu.
III. Bình giảng đoạn thơ
1. Bình giảng hai câu đầu:
- Thể hiện khái quát nội dung cảm xúc của cả đoạn thơ: nhớ cảnh đi liền với nhớ người (Hoa tượng trưng cho vẻ đẹp thiên nhiên Việt Bắc).
- Câu thơ là câu hỏi nhưng đồng thời cũng là lời đối thoại. Hỏi đã trở thành cái cớ để bày tỏ tâm trạng, nỗi niềm.
- Chính nỗi nhớ “Những hoa cùng người” đã chi phối cấu trúc đoạn thơ còn lại: 8 câu thành 4 cặp lục bát cân đối hài hòa. Cứ một câu sáu tả hoa, tả cảnh, thì lại xen vào một câu tám tả người. Cảnh hiện lên với những vẻ đẹp đa dạng trong không gian, thời gian, thay đổi tạo thành một bộ tứ bình đặc sắc: Xuân, hạ, thu, đông. Mỗi mùa có những đường nét, màu sắc, âm thanh, ánh sáng chủ đạo, tất cả thấm đậm trong tình cảm nhớ thương tha thiết của tác giả. Con người qua ngòi bút của Tố Hữu trở nên bình dị, giàu lòng thuỷ chung ân tình với cách mạng, với kháng chiến; vẻ đẹp của cảnh hòa quyện với vẻ đẹp của người làm và cùng tôn nhau lên: Việt Bắc đâu cũng có cảnh đẹp, đâu cũng có con người ân tình, chăm chỉ.
2. Bình giảng 8 câu thơ còn lại:
Câu 3, 4: Đông về với màu xanh trầm mặc bát ngát bao la của rừng, có điểm những bông chuối đỏ tươi như son, tạo thành một bức tranh với đường nét, màu sắc vừa đối lập, vừa hài hoà, vừa cổ điển, vừa hiện đại.
- Gam màu  “đỏ tươi” của hoa chuối là gam màu ấm nóng và tiềm ẩn một sức sống bên trong dường như để làm vơi đi hoang so, hiu hắt, lạnh giá vốn có của núi rừng.
- Con người: trước thiên nhiên bao la dường như trở nên vững chãi, tự tin hơn, bởi cái tư thế làm chủ đầy kiêu hãnh của họ trong cuộc sống lao động: lên núi làm nương, sản xuất ra nhiều lúa, ngô phục vụ cho kháng chiến. Con người ở đây xuất hiện trong một vị trí, tư thế đẹp nhất.
Câu 5, 6: Đông qua xuân lại về. Bao trùm lên cảnh vật là màu trắng dịu dàng, trong trẻo tinh khiết của hoa mơ nở khắp rừng “mơ nở trắng rừng”. Chú ý từ “trắng” được tác giả sử dụng như một động từ gợi cho người đọc cảm giác màu trắng ấy đã làm bừng sáng cả khu rừng (có thể liên hệ thêm câu thơ Tố Hữu viết sau này: “Trắng rừng biên giới nở hoa mơ”).
- Hình ảnh con người với công việc của mùa xuân: “Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”. Hình ảnh thơ đã nói lên được bàn tay khéo léo, tài hoa, nhanh nhẹn, chăm chút và phẩm chất tần tảo, cần cù của con người Việt Bắc.
Câu 7, 8: Bức tranh mùa hè với màu sắc rực rỡ, âm thanh rộn rã: “Ve kêu rừng phách đổ vàng”. Chú ý phân tích bình giá ý nghĩa thẩm mĩ của từ “đổ vàng”. Chỉ trong một câu thơ mà ta như thấy được cả thời gian luân chuyển sống động: tiếng ve kêu báo hiệu mùa hè đến và cây phách ngả sang màu vàng rực rỡ. Đây chính là một biểu hiện đặc sắc của tính dân tộc trong thơ Tố Hữu.
- Hình ảnh con người: “Nhớ cô em gái hái măng một mình”. Nhờ cách xưng hô gần gũi, thân thương của tác giả mà hình ảnh cô gái hái măng hiện lên thật đẹp và rất đáng yêu. Đó là hình ảnh cô gái mang vẻ đẹp ở nét chịu thương, chịu khó và rất can đảm. Đằng sau hình ảnh đó, ẩn chứa biết bao tình yêu thương, trân trọng, cảm phục của tác giả.
Câu 9, 10: Thu sang, khung cảnh núi rừng chiến khu như được tắm trong ánh trăng xanh huyền ảo “Rừng thu trăng rọi hoà bình”. Ánh trăng chiếu sáng không khí thanh bình nơi chiến khu gợi cảm giác về cuộc sống yên ấm, hạnh phúc, tươi vui. Ai đã từng trải qua những tháng ngày mưa bom “máu trộn bùn non”, “sống chết từng giây mưa bom bão đạn” mới thấm thía hết sự xúc động của lòng người trong những đêm trăng hoà bình đó. Vì vậy, tác giả tả cảnh trăng rừng mà vẫn gợi được không khí rạo rực đắm say, bởi giữa ánh trăng rừng đó đã vang lên tiếng hát mang đậm ân tình chung thuỷ của người dân Việt Bắc, những người đã từng hi sinh tất cả cho kháng chiến, cách mạng để “Chín năm làm một Điện Biên; Nên vành hoa đỏ lên thiên sử vàng”. Vì thế, những con người ấy đã trở thành điểm sáng ngời nhất của bức tranh chiến khu Việt Bắc.
3. Tiểu kết:
- Đây là đoạn thơ tiêu biểu nhất cho nội dung và nghệ thuật của bài “Việt Bắc”.
- Những câu thơ lục bát đậm đà âm hưởng ca dao, có nhạc điệu dịu dàng trầm bổng mang cảm xúc êm ái như một khúc hát ru kỉ niệm.
- Cách xưng hô “mình - ta”, một lối xưng hô truyền thống, đậm đà tình nghĩa, đặc biệt điệp từ “nhớ” có tác dụng khắc sâu và cụ thể hoá tâm tình của người ra đi với cảnh và người Việt Bắc.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét