24 tháng 7 2015

Hoàn cảnh sáng tác bài Tràng giang

Đề 1: Nêu rõ hoàn cảnh sáng tác và phân tích, bình giảng khổ thơ sau trong bài thơ “Tràng Giang” của Huy Cận:
                                       Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
                                       Con thuyền xuôi mái nước song song,
                                       Thuyền về nước lại sầu trăm ngả;
                                       Củi một cành khô lạc mấy dòng”.
ĐÁP ÁN - HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
1. Hoàn cảnh sáng tác:
- Huy Cận là một trong những nhà thơ tiêu biểu của dòng thơ ca lãng mạn 1930-1945. “Tràng giang” là một bài thơ nổi tiếng của ông được sáng tác vào năm 1939 đăng lần đầu tiên trên báo “Ngày nay”, sau đó in vào tập “Lửa thiêng”. Bài thơ mang phong vị Đường thi khá rõ.
- Theo Huy Cận đây là bài thơ được sông Hồng gợi tứ. Ông đã có lần tâm sự: “Tôi có thú vui thường vào ngày chủ nhật hằng tuần đi lên vùng Chèm, Vẽ để ngoạn cảnh sông Hồng và hồ Tây. Phong cảnh sông nước đẹp gợi cho tôi nhiều cảm xúc. Tuy nhiên, bài thơ không chỉ do sông Hồng gợi cảm hứng mà còn mang cảm xúc chung về những dòng sông khác của quê hương”.
- Vì vậy, phân tích bài thơ này là phân tích một bức tranh thiên nhiên sông nước hầu như đã trở thành cổ điển mà linh hồn của nó là một nỗi buồn đìu hiu mênh mang. Qua mỗi khổ thơ, tác giả điểm thêm một nét buồn nào đó. Tất cả những nét buồn ấy cứ trở đi trở lại vẫn là bát ngát, mênh mông mà hoang vắng và có một cái gì đó tàn tạ, lụi tắt, cô đơn, bơ vơ, nổi trôi, chia lìa, phiêu dạt. Đây là nỗi buồn cô đơn rợn ngợp của cá thể trước cái không gian ba chiều bao la, luôn luôn có niềm khao khát được hoà hợp cảm thông giữa người và người trong tình đất nước và tình nhân loại.
2. Phân tích, bình giảng khổ thơ thứ nhất:
                                       “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
                                       Con thuyền xuôi mái nước song song,
                                       Thuyền về nước lại sầu trăm ngả;
                                       Củi một cành khô lạc mấy dòng”.
Ý1: Giới thiệu vài nét về tác giả và bài thơ:
- “Tràng giang” là một trong những bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ Huy Cận, sáng tác năm 1939, rút từ tập “Lửa thiêng”, tập thơ đầu tay của Huy Cận, sáng tác khoảng 1937- 1940. Tập thơ đã đưa Huy Cận trở thành một gương mặt tiêu biểu trong phong trào thơ mới thời kì đầu phát triển.
- Huy Cận là thi sĩ thơ lãng mạn có nỗi buồn “ảo não”, “ngẩn ngơ” trước cái không gian bao la và thời gian thăm thẳm. Đó là nỗi buồn “sông núi”, nỗi buồn trước cảnh nước mất, nhà tan và nỗi buồn cô đơn của một thế hệ nhà “thơ mới” nằm tròn trong vòng một “chữ tôi” bế tắc, luôn luôn có niềm khao khát được hoà hợp cảm thông trong tình đất nước và tình nhân loại.
- Khổ thơ ta bình giảng là khổ thứ nhất của bài thơ. Nó mở ra bằng một hình ảnh sông nước mênh mông trước một bức tranh thiên nhiên “Tràng giang” tàn tạ, quạnh hiu, nổi trôi, chia lìa, phiêu dạt.
Ý2: Hai câu đầu:
- Hình ảnh “Tràng giang” vừa mở ra chiều rộng, vừa vươn tới chiều dài:
                                       “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
                                       Con thuyền xuôi mái nước song song
- “Sóng gợn… điệp điệp”: Bằng một hình ảnh ẩn dụ và một từ láy “điệp điệp” vừa gợi hình vừa gợi cảm, câu thơ diễn tả một nỗi buồn như mở ra bất tận cũng như sóng gợn tầng tầng lớp lớp, không dứt trên dòng “Tràng giang”.
- “Con thuyền xuôi mái nước song song”: Câu thơ có thể hiểu con thuyền xuôi theo dòng nước mà đi và còn có thể hiểu là con thuyền bất lực ngay với mái chèo của mình, lênh đênh mặc cho dòng nước cuốn trôi xuôi cho đến tận cuối chân trời không bến đậu (có thể bình mở rộng bằng cách liên hệ với hai câu thơ nổi tiếng của Đỗ Phủ trong bài “Đăng cao”:
                                       “Vô biên lạc diệp tiêu tiêu hạ
                                       Bất tận trường giang cổn cổn lai”)
Ý3: Hai câu sau:
- Hình ảnh thơ gợi lên sự khô héo, nổi trôi, cô đơn, chia lìa:
                                       “Thuyền về nước lại sầu trăm ngả;
                                        Củi một cành khô lạc mấy dòng”.
Hình ảnh con thuyền gợi về sự trôi nổi, lênh đênh. Thuyền và nước vốn là hai hình ảnh luôn luôn gắn bó. Vậy mà ở đây lại có sự xa cách, chia lìa đang đón đợi “thuyền về” >< “nước lại” - “sầu trăm ngả” chứ không phải ít ngả vì là sông lớn. Nó tượng trưng cho xã hội cũ.
- “Củi một cành khô lạc mấy dòng” là một hình ảnh rất mới mẻ và giàu sức biểu hiện. Hình ảnh gợi lên biết bao sự tang thương khô héo, trôi dạt, bơ vơ. Nó tượng trưng cho kiếp người nhỏ nhoi, lạc loài, vô định. Vậy là tất cả những hình ảnh “củi”, “nước”, “thuyền”, “sóng” và cả dòng tràng giang đều tập trung làm nổi bật nỗi buồn, sầu, trôi nổi, chia lìa, bơ vơ.

Nghệ thuật: Chú ý khai thác, bình giá về thủ pháp “điệp” và “đối” nhấn mạnh nỗi sầu dằng dặc và sự chia biệt, cô đơn.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét