26 tháng 7 2015

Nét chính về sự nghiệp văn học của Nam Cao

Đề 1: Những nét chính trong sự nghiệp văn học của Nam Cao

ĐÁP ÁN - HƯỚNG DẪN LÀM BÀI

Nam Cao (1915 – 1951) tên thật là Trần Hữu Tri ở làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Sang, Phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nam (Nay là xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam) được độc giả công nhận là một nhà văn hiện thực lớn, có tư tưởng nhân đạo vừa sâu sắc, vừa rộng lớn, vừa độc đáo, mới mẻ và là người đã góp phần vào việc cách tân nền văn xuôi Việt Nam theo hướng hiện đại.
Sự nghiệp sáng tác của Nam Cao có thể chia làm hai giai đoạn:
   A. Trước Cách mạng tháng Tám
   1. Từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, Nam Cao đã mơ ước sáng tác. Những sáng tác của ông lúc này còn mang nặng khuynh hướng lãng mạn, thoát li thi vị hóa hiện thực mà sau này ông đã tự phê phán cho đó là thứ văn chương “như ánh trăng lừa dối”. Ông kí các bút danh Thúy Rư, Xuân Du, Nhiêu Khê, Nguyệt… chỉ mãi đến năm 1941, khi truyện ngắn “Chí Phèo” ra đời, Nam Cao mới chuyển hẳn sang trường phái hiện thực theo con đường “nghệ thuật vị nhân sinh” để kế tục những tên tuổi lừng danh như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng.
2. Những sáng tác của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám tập trung vào hai đề tài chính: Cuộc sống của những người tiểu tư sản nghèo và cuộc sống của người nông dân. Dù viết về đề tài nào, thì điều mà Nam Cao quan tâm trước tiên và day dứt nhất là tình trạng con người lao động bị tha hóa, bị xói mòn về nhân phẩm, thậm chí bị hủy diệt cả nhân tính, trong cái xã hội phi nhân đạo đương thời.
3. Về đề tài trí thức tiểu tư sản, đáng chú ý là các truyện ngắn: “Trăng sáng”, “Đời thừa”, “Truyện tình”, “Mua nhà”, “Nước mắt”, “Quên điều độ”, “Những truyện không muốn viết”… và tiểu thuyết “Sống mòn” (1944)… Trong những tác phẩm này, Nam Cao đã miêu tả hết sức chân thực và cảm động tình trạng nghèo khổ, sống dở, chết dở của người trí thức nghèo. Qua đó, tác giả còn đặc biệt đi sâu vào những tấn bi kịch tâm hồn của họ. Đó là tấn bi kịch dai dẳng, thầm lặng mà đau đớn của những con người có ý thức sâu sắc về giá trị sự sống và nhân phẩm; có hoài bão lớn về một sự nghiệp tinh thần cao cả, nhưng lại bị gánh nặng cơm áo và cuộc sống tàn nhẫn đầy rẫy bất công vô lí, đẩy họ vào cảnh “chết mòn” về tinh thần và cuộc sống “đời thừa”. Phê phán cái xã hội phi  nhân đạo đã bóp nghẹt sự sống và tàn phá tâm hồn con người, Nam Cao đồng thời cũng thể hiện niềm khao khát hướng tới một cuộc sống đẹp đẽ xứng đáng với con người.
4. Ở đề tài người nông dân: Là nhà văn sinh ra và lớn lên nơi chốn bùn lầy nước đọng, Nam Cao hiểu biết khá sâu sắc cuộc sống những con người thấp cổ, bé họng này. Ông đã để lại chừng hai chục truyện ngắn có giá trị về đề tài nông dân, đáng chú ý là “Lão Hạc”, “Chí Phèo”, “Mua danh”, “Một bữa no”, “Một đám cưới”, “Điếu văn”, “Dì Hảo”, “Tư cách mõ”, “Nửa đêm”, “Trẻ con không được ăn thịt chó”, “Lang Rận”, … Qua những tác phẩm trên, Nam Cao vừa mô tả một cách thấm thía và cảm động những số phận tăm tối, hẩm hiu, bị ức hiếp, bị tha hóa, bị lăng nhục của người nông dân vừa kết án sâu sắc cái xã hội tàn bạo, đã tàn phá cả thể xác lẫn linh hồn của họ, đồng thời phát hiện và khẳng định phẩm chất lương thiện đẹp đẽ của họ ẩn giấu đằng sau những tâm hồn tưởng như tối tăm và cằn cỗi đó. Chiều sâu mới mẻ của ngòi bút hiện thực và nhân đạo của Nam Cao chính là ở đấy.
5. Nam Cao đã không thấy được khả năng đổi đời của người nông dân và triển vọng xã hội.Tuy vậy, trong truyện ngắn “Điếu văn” (1944), Nam Cao đã có lời chào đón chân thành, tha thiết, tia ánh sáng bình minh đang bừng dậy ở  chân trời “Cuộc đời không thể cứ mù mịt mãi mãi thế này đâu… Một rạng đông đã báo rồi”!.
B. Sau Cách mạng tháng Tám:
1. Nam Cao là một trong số ít nhà văn đã đến với Cách mạng từ đầu. Năm 1948 ông được kết nạp vào Đảng. Ông tham gia hội Văn hóa cứu quốc, tích cực hoạt động Cách mạng và kháng chiến.
2. Nam Cao được xem là một trong những cây bút tiêu biểu nhất trong những năm đầu cuộc kháng chiến chống Pháp. Thời kì này, ông viết được nhiều tác phẩm có giá trị như Nhật kí “Ở rừng” (1948), kí sự “Chuyện biên giới” (1950), đặc biệt là truyện ngắn “Đôi mắt” (1948) ra đời giữa lúc giới văn nghệ đang vất vả “nhận đường” là một thành công xuất sắc của văn nghệ kháng chiến lúc đó. Thông qua việc phê phán một nghệ sĩ có “Đôi mắt” lệch lạc trong việc nhìn người, nhìn đời, có lối sống trưởng giả, kênh kiệu, nhởn nhơ, lạc lõng giữa cuộc kháng chiến sôi nổi của toàn dân tộc và khẳng định một nghệ sĩ mới dứt khoát từ bỏ con người cũ, lối sống cũ và quyết tâm “cách mạng hóa tư tưởng, quần chúng hóa sinh hoạt”, trở thành người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa, “Đôi mắt” xứng đáng là một tuyên ngôn nghệ thuật của tầng lớp văn nghệ sĩ tiểu tư sản đi theo kháng chiến.

Kết luận: Năm 1951 trên đường về quê công tác, ông bị kẻ thù phục kích giết chết, giữa khi tài năng đang độ nở rộ. Nam Cao đã ngã xuống trong tư thế người nghệ sĩ - chiến sĩ. Ông hoạt động văn học chỉ vẻn vẹn dưới 10 năm, nhưng đã để lại một sự nghiệp văn học to lớn. Nam Cao được đánh giá là nhà văn đứng ở vị trí hàng đầu trong nền văn xuôi Việt Nam thế kỉ XX và xứng đáng được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học - nghệ thuật (Đợt I năm 1996). Cuộc đời lao động nghệ thuật vì lý tưởng nhân đạo, lí tưởng cách mạng và sự hi sinh anh dũng của Nam Cao mãi mãi là tấm gương cao đẹp của một nhà văn  - chiến sĩ.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét