21 tháng 7 2015

Phân tích bài thơ Tảo giải (Giải đi sớm)

Đề 10: Phân tích - bình giảng bài thơ của Bác Hồ Tảo giải” (Giải đi sớm)
I
                                                Nhất thứ kê đề dạ vị lan,
                                                Quần tinh ủng nguyệt hướng thu san;
                                                Chinh nhân dĩ tại chinh đồ thượng,
                                                Nghênh diện thu phong trận trận hàn.
                                                                                    II
                                                Đông phương bạch sắc dĩ thành hồng,
                                                U ám tàn dư tảo nhất không;
                                                Noãn khí bao la toàn vũ trụ,
                                                Hành nhân thi hứng hốt gia nồng.
Dịch thơ:                                                         I
                                                Gà gáy một lần đêm chửa tan,
                                                Chòm sao đưa nguyệt vượt lên ngàn;
                                                Người đi cất bước trên đường thẳm
                                                Rát mặt, đêm thu, trận gió hàn.
                                                                                    II
                                                Phương Đông màu trắng chuyển sang hồng,
                                                Bóng tối đêm tàn, sớm sạch không
                                                Hơi ấm bao la trùm vũ trụ,
                                                Người đi thi hứng bỗng thêm nồng.
ĐÁP ÁN - HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
            Mở bài:
            1. Thơ của Bác Hồ là thơ của một thi sĩ có hồn thơ rất vui, rất khoẻ, luôn luôn có sự vận động từ bóng tối đến ánh sáng, từ đêm đen đến bình minh.
            2. Những bài thơ tả cảnh thiên nhiên của Người càng thể hiện rõ nét phong cách đặc sắc ấy.
            3. Bài thơ “Giải đi sớm” là một trong những bài thơ đó.
            Thân bài
            (Ý1: Hoàn cảnh sáng tác: Xem đề 10)
            Chính hoàn cảnh ấy đã giúp cho ta hiểu sâu hơn các ý thơ, hình ảnh thơ. Hình ảnh thơ rất sinh động, lấp lánh ánh sáng, ý thơ có sự vận động khoẻ khoắn, đột ngột từ đêm đen đến bình minh. Bài thơ viết về sự chuyển lao mà nổi bật lên trong bài thơ là hình ảnh một thi nhân đang đi tìm thi hứng.
            Phân tích khổ I:          
            Câu 1: Câu thứ nhất là một câu thơ tả thực nói về tiếng gà gáy vang vọng giữa canh khuya, xuất hiện trong một không gian tĩnh mịch. Người đọc dễ hình dung một cảnh tượng vắng vẻ, quạnh hiu, cô đơn, lạnh giá sẽ vây bủa lấy người tù nơi đất lạ. Hình ảnh thơ gợi lên một tình thế đối lập giữa con người và thiên nhiên. Tình cảm của nhân vật trữ tình dễ trở thành lời than thở về nỗi khổ cực của kẻ bị lưu đày.
            Câu 2: Nhưng sang câu thơ thứ hai, ý thơ bỗng nhiên đột ngột toả sáng. Thiên nhiên qua tâm hồn Bác bỗng trở nên sống động, ấm áp bởi chúng như quấn quýt với nhau và lấp lánh ánh sáng phía trước (chú ý phân tích thêm chữ “quần”, từ “ủng” và hình ảnh “thu san” trong nguyên tác. Không có cơ sở nào để hiểu câu thơ theo nghĩa tượng trưng). Câu thơ chủ yếu được viết theo bút pháp tả thực. Đây có thể được xem là một tứ thơ cải tạo hoàn cảnh, biến đổi tình thế. Bác đã tìm thấy trong thế đối lập có sự hài hoà.
            Câu 3, 4: Hình ảnh người tù trên đường chuyển lao tuy đầy gian khổ nhưng luôn luôn ở tư thế chủ động, tự tin đón nhận khó khăn:
                                    “Người đi cất bước trên đường thẳm
                                    Rát mặt đêm thu trận gió hàn”
            Hoàn cảnh chuyển lao khốc liệt như muốn nhấn chìm tù nhân. Nhưng ở đây, tù nhân - chiến sĩ vẫn hiện lên trong tư thế “nghênh diện”- tư thế hiên ngang chủ động tự tin vững vàng đầy khí phách của một người tù vĩ đại (Chú ý phân tích điệp từ “chinh” và “trận” trong nguyên tác. Chúng nhịp với nhau vừa diễn tả cái khốc liệt của hoàn cảnh chuyển lao, vừa tạo nên một âm hưởng khoẻ khoắn trầm hùng. Còn bản dịch dùng từ “cất bước” và “đường thẳm”, “gió hàn” làm đánh mất cái âm hưởng ấy và gợi lên trong ta một tư thế bị động của người tù, đồng thời có cái gì đó giống như một lời than thở).
            - Hình ảnh người tù - chiến sĩ cách mạng luôn ở tư thế chủ động và vươn lên trên hoàn cảnh khắc nghiệt, không cho nó lấn át mình. Đó cũng chính là chất thép đặc sắc biểu hiện ở khổ thơ này.
            Phân tích khổ II:
            Tiếp tục phát triển ý thơ ở khổ I, tác giả đã dựng lên một bức tranh mô tả cảnh bình minh tươi sáng với cả bầu trời ửng hồng thay thế cho bóng đêm âm u lạnh giá.
            Câu 1: Thiên nhiên qua ngòi bút của Bác dường như đã có sự chuyển biến vô cùng đột ngột, mạnh mẽ và mau lẹ. Cả vũ trụ, cả phương Đông vừa mới đây còn đầy bóng tối bỗng chốc bừng sáng, toàn cảnh thơ rực rỡ cả một màu hồng. (Chú ý bình chữ “hồng” có vai trò như một “nhãn tự”, vừa có ý nghĩa cụ thể, vừa mang tính chất tượng trưng).
            Câu 2: Màu “hồng” ấy trong khoảnh khắc đã quét “sạch không” những bóng tối của đêm còn sót lại và toả hơi ấm bao la trùm vũ trụ, xua tan khí lạnh u ám đêm đen. Đây là một hình ảnh thơ rất khoẻ, nhuốm màu sắc thần thoại.
            Câu 3: Phải có hơi ấm từ trái tim đầy nhiệt huyết và niềm tin của nhà thơ - chiến sĩ toả vào đất trời thì vũ trụ mới bao la và nồng ấm nhanh đến thế!
            Câu 4: Chú ý câu thơ nguyên tác của Bác có từ “gia”, nghĩa là thêm vào. Thì ra thi hứng của một tù nhân - thi nhân không phải giờ đây trước thiên nhiên rộng mở mới xuất hiện, mà trái lại đã “nồng” lên từ lúc mới cất bước lên đường “gà gáy một lần đêm chửa tan”.
            - Thế là người tù bỗng chốc đã thành nhà thơ từ lúc nào và trong tâm hồn đang dào dạt thi hứng.
            - Từ khổ thơ thứ nhất đến khổ thơ này, “hình tuợng thơ đã có sự vận động từ lạnh giá đến ấm áp, từ đêm đen đến bình minh - một bình minh bao la hùng vĩ tạo nên một niềm lạc quan hứng khởi trước một ngày mới, khiến cho cảnh bình minh trong một ngày bỗng có cái khí thế của cảnh bình minh cho một thời đại” (Hoài Thanh).
            Kết luận:

            Bài thơ viết về chuyện chuyển lao nhưng không nói chuyện đoạ đày mà chủ yếu mở ra một bức tranh của buổi ban mai tràn đầy ánh sáng và nổi lên trên bức tranh là hình ảnh một thi nhân với phong thái ung dung, tâm hồn dào dạt thi hứng như một người đi ngoạn cảnh. Đây chính là nét đặc sắc, cái chất cộng sản Hồ Chí Minh đã tạo nên “cái hay vô song cho bài thơ” (ý Xuân Diệu).

0 nhận xét:

Đăng nhận xét