24 tháng 7 2015

Phân tích bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính

Đề bài: Phân tích bài thơ “Tương tư” của Nguyễn Bính
(XEM SÁCH VĂN ÔN THI ĐẠI HỌC TẠI ĐÂY)

ĐÁP ÁN - HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
Mở bài
Trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca”, Hoài Thanh đã viết: “Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kỳ dị như Chế Lan Viên”. Đúng, thơ Nguyễn Bính là lối thơ đậm đà tính dân tộc với những điệu lục bát quen thuộc, những cách diễn đạt ý nhị, duyên dáng, bình dị, những hình ảnh đầy thiên nhiên. Do đó, hầu hết thơ Nguyễn Bính là những thôn ca với một thứ tình yêu, cảnh quê rất mộc mạc mà gợi cảm. Bài “Tương tư” là một trong những bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Nguyễn Bính.
Thân bài:
I. Vài nét về tác giả và sự nghiệp thơ văn của Nguyễn Bính
- Nguyễn Bính (1918 - 1966) tên khai sinh là Nguyễn Trọng Bính, quê ở làng Thiệu Vinh, xã Cộng Hoà, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Ông mồ côi mẹ từ sớm, được người cậu ruột đưa về nuôi dạy. Ông đã từng lưu lạc nhiều nơi, vừa dạy học, vừa làm thơ. Từ Cách mạng tháng Tám – 1945 đến kháng chiến chống Pháp, ông hoạt động ở Nam Bộ. Năm 1954, ông tập kết ra Bắc, hoạt động văn nghệ và báo chí ở Hà Nội rồi Nam Định. Ông mất đột ngột vào sáng 30 tết Tân Tỵ (20-1-1966). Ông được nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 2000.
- Sự nghiệp thơ văn: Nguyễn Bính làm thơ từ năm 13 tuổi. Ông đã đoạt giải thưởng của “Tự lực Văn đoàn ” với tập thơ “Tâm hồn tôi”. Ông có các tập thơ tiêu biểu: “Lỡ bước sang ngang” (1940), “Mười hai bến nước” (1942), “Gửi vợ miền Nam” (1955)…
- Là một nhà thơ mới, nhưng Nguyễn Bính lại trở về đào sâu vào truyền thống dân gian nên đã đem đến cho thơ mình một vẻ đẹp “Chân quê”. Cảnh sắc và bóng dáng con người trong thơ ông đều thấm đượm tình quê, chân quê, duyên quê và phảng phất hồn xưa đất nước… Nguyễn Bính có sở trường nhất ở thể lục bát.
- Bài “Tương tư” rút trong tập “Lỡ bước sang ngang” (1940)
II. Phân tích:
1. Bài thơ nói lên được quy luật của tình yêu.
- Trai gái yêu nhau, nhớ nhau mà không được gặp nhau gọi là tương tư. Nhưng thường thường là chỉ một người thương nhớ một người mà không được đền đáp lại, trường hợp này văn chương mới gọi là “Tương tư
- Ở đây, Nguyễn Bính có cảnh tương tư, bộc lộ tình yêu rất riêng của ông “Thôn Đoài… Thôn Đông… tôi yêu nàng”. Nỗi tương tư ở đây tuy có vẻ còn mơ hồ bâng quơ, nhưng không kém phần tha thiết. Cặp từ “chín nhớ… mười mong” đã diễn tả điều đó.
- Với Nguyễn Bính, “Tương tư” là một căn bệnh có sẵn của những chàng trai mang giống “đa tình” một căn bệnh tự nhiên như “gió mưa” của “giời” và là một căn bệnh rất dễ thương và đáng yêu “gió mưa là … yêu nàng”.
- Bệnh tình xem ra chưa đến nỗi nặng lắm “Tương tư không ốm cũng sầu”, mà chỉ vừa đủ diễn tả thành những lời băn khoăn hờn dỗi, trách móc rất dễ mến (“Hai thôn chung lại… sang bên này”). Những lời trách móc có vẻ vô lý, nhưng lại rất có duyên, chỉ đủ làm vơi đi nỗi nhớ mong tha thiết vô vọng mà thôi!
- Chàng trai hết trách rồi lại kể, lại than nào là “Tương tư thức… biết cho”. Thời gian chờ đợi cứ lạnh lùng trôi qua mà lòng chàng trai thì héo hon, tàn úa “Ngày qua… lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng”.Chú ý phân tích nhịp 3/3 câu sáu diễn tả thời gian trôi đi chậm rãi, nặng nề, chán ngán, vô vọng.  Và đặc biệt bình từ “nhuộm”. Thời gian quá “chậm chạp” và nỗi tương tư đã “nhuộm” héo úa cả cỏ cây.
- Sau lời than, trái tim nhà thơ lại bừng lên hi vọng: nghĩ đến lễ nghi cưới xin, cái đích của nỗi nhớ mong (“Trầu cau”). Thế nhưng “Cau thôn Đoài lại nhớ trầu không thôn nào?” mất rồi! Chữ “thôn nào” phải chăng đã đưa nỗi “tương tư” này vào cõi thất vọng, bẽ bàng?
+ Qua bài thơ, người đọc rất dễ dàng cảm thông với với trái tim đang nồng nàn nỗi nhớ mong của chàng trai đã đến tuổi khát khao yêu đương và giàu mơ mộng. Quan trọng hơn nữa, ở đây ta có thể nhận ra những trạng thái tự nhiên, chân thực mà tinh tế, phức tạp của trái tim cái “Tôi thơ mới”.
2. Bài thơ còn gợi tình quê, cảnh quê, hồn xưa đất nước:
a. Sử dụng thể thơ lục bát đậm đà màu sắc dân ca, với lối dùng hình ảnh bình dị đã đưa người đọc vào thế giới của làng quê Việt Nam cổ truyền.
b. Lối tư duy gắn chặt với thiên nhiên, tạo nên những cảnh thơ đầy thiên nhiên.
c. Nó còn thể hiện ở cách bày tỏ tình cảm kín đáo và tế nhị của chàng trai.
Kết luận:
- Thâu tóm lại giá trị chính của bài thơ

- Nói chuyện “Tương tư”, nhưng thực chất là nói lên khát vọng vươn tới hạnh phúc trọn đầy - một khát vọng rất giàu tính nhân bản.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét