21 tháng 7 2015

Phân tích, bình giảng bài thơ: Mộ - Chiều tối

Đề 8: Phân tích, bình giảng bài thơ “Mộ - Chiều tối” của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
                          “Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ,
                          Cô vân mạn mạn độ thiên không;
                          Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc,
                          Ma túc bao hoàn, lô dĩ hồng.”
Dịch thơ:
                          Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ,
                          Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không;
                          Cô em xóm núi xay ngô tối,
                          Xay hết, lò than đã rực hồng.
ĐÁP ÁN - HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
      I. Giới thiệu về tác giả Hồ Chí Minh và bài thơ
            1. Hồ Chí Minh là nhà cách mạng vĩ đại đồng thời là tác giả văn học lớn. “Nhật kí trong tù” là tác phẩm tiêu biểu được viết vào khoảng thời gian từ đầu mùa thu 1942 đến cuối 1943, tức là thời gian Bác bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam tại Quảng Tây - Trung Quốc
            2. “Mộ” (Chiều tối) là một bài thơ rất có giá trị của tập thơ, vừa gợi được cảnh sống gian truân của Bác trong những ngày bị giam cầm, vừa thể hiện được vẻ đẹp trong tâm hồn của người cộng sản vĩ đại Hồ Chí Minh.
            II. Phân tích- bình giảng bài thơ
            1. Phân tích cảnh chiều tối nơi núi rừng.
            a. Hai câu đầu:
        - Cảnh chiều tối được gợi tả bằng vài hình ảnh có tính ước lệ của thơ cổ: Chim mỏi về rừng, chòm mây lững thững trôi.
        - Tuy là những hình ảnh mang màu sắc ước lệ nhưng được Bác vận dụng một cách tự nhiên, phù hợp với cảnh thực và tâm trạng thực của thi nhân: ở chốn núi rừng, ánh sáng cuối cùng của một ngày thì chỉ có thể thấy được trên đỉnh trời đang soi chiếu một cánh chim bay về tổ và chòm mây bay ngang bầu trời. Cảnh ấy phù hợp với tâm trạng người tù cách mạng buồn nhớ quê hương, lại trải qua một ngày bị áp giải trên đường vô cùng vất vả, mệt mỏi.
        - Dù lâm vào cảnh vất vả, bị đoạ đầy, nhưng thi sĩ Hồ Chí Minh vẫn thể hiện tình cảm yêu mến thiết tha  và thái độ đồng cảm, chia sẻ với tạo vật, thiên nhiên vùng sơn cước lúc chiều buông.
        2. Tinh thần nhân hậu và lạc quan của nhà thơ:
                          b. Hai câu sau:
            Nét đặc sắc của hai câu thơ này là diễn tả được sự vận động của thời gian từ  chiều muộn đến tối hẳn, bằng cách dùng hình ảnh ánh sáng (lò than đã rực hồng). Trời tối hẳn nên lò than rực sáng lên, thu hút con mắt của nhà thơ.
            - Sự chuyển cảnh ở nửa sau bài thơ cho thấy lòng yêu con người, yêu cuộc sống đặc biệt sâu sắc của Bác. Bác đã nói về hình ảnh cô gái xóm núi xay ngô với biết bao cảm xúc trìu mến. Bác hiểu nỗi nhọc nhằn, vất vả của người lao động (cụm từ “ma bao túc” được lặp lại theo trật tự đảo ngược ở câu 3 và 4 góp phần biểu đạt ý này) nhưng đồng thời cũng nhìn thấy nét đẹp riêng, chất thơ riêng ở những cảnh đời bình dị.
            - Chữ “hồng” cuối bài thơ đã trở thành “nhãn tự” trong tác phẩm. Với chữ “hồng” đó, dường như Bác Hồ đã quên đi cảnh ngộ bị đày ải buồn thương của mình mà hướng đến chia sẻ niềm vui cuộc sống con người lao động bình thường. Quan trọng hơn, chữ “hồng” ấy đã giúp ta hiểu được niềm lạc quan đáng quý của nhà cách mạng.
            - Qua sự chuyển đổi của cảnh sắc (từ tối đến sáng), tình cảm (buồn đến vui), chúng ta thấy rõ ràng trong bất cứ hoàn cảnh nào, người cộng sản Hồ Chí Minh cũng hướng tâm hồn mình về phía tươi sáng của cuộc đời và yêu thương con người đến mức “Nâng niu tất cả chỉ quên mình”.
            Chú ý: Khi phân tích cần đối chiếu với nguyên bản chữ Hán để thấy nét tinh tế của ngòi bút Bác Hồ. Trong nguyên bản có chữ “cô vân”- chòm mây cô đơn và từ “mạn mạn”- lững lờ, mệt mỏi diễn tả rất đạt tâm trạng thi nhân. Ở câu ba, nguyên bản không có chữ “tối” mà vẫn nói được trời tối. Bản dịch thêm chữ “tối” làm giảm đi tính hàm súc và vẻ đẹp cổ điển trong câu thơ của Bác.


0 nhận xét:

Đăng nhận xét