24 tháng 7 2015

Phân tích hình ảnh dòng sông Đà

Đề 8: Phân tích hình ảnh dòng sông Đà trong tác phẩm “Người lái đò sông Đà” của nhà văn Nguyễn Tuân.
                                   ĐÁP ÁN - HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
I. Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm
        1. Nguyễn Tuân (1910- 1987) là nhà văn nổi tiếng của nền văn xuôi Việt Nam hiện đại. Ông có phong cách nghệ thuật rất độc đáo. Nguyễn Tuân có sở trường về thể loại tuỳ bút.
2. Tuỳ bút “Người lái đò sông Đà” là một trong những tác phẩm đặc sắc kết tinh được phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân, được in trong tập “Sông Đà” (1960). Ở tuỳ bút này, ngoài hình tượng người lái đò rất hấp dẫn, hình tượng dòng sông Đà cũng là một hình tượng đặc sắc mang dấu ấn phong cách Nguyễn Tuân.
II. Phân tích hình tượng thiên nhiên, dòng sông Đà
Dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân, con sông Đà không phải là thiên nhiên vô tri, vô giác mà còn là một sinh thể sống động, một nhân vật đầy sức sống và có tính cách hẳn hoi. Đó là hung bạo, dữ dằn và trữ tình, thơ mộng.
A. Tính cách hung bạo, hùng vĩ
Trước hết, tác giả giới thiệu lai lịch của con sông Đà: “Nó khai sinh ở huyện Cảnh Đông, tỉnh Vân Nam bên Trung Quốc lấy tên là Li Tiên, đi qua một vùng núi ác rồi đến gần nửa đường thì xin nhập quốc tịch Việt Nam, truởng thành mãi lên và đến ngã ba Trung Hà thì chan hoà vào sông Hồng”. Sau đó, bằng những trang viết sinh động, bằng những câu văn, hình ảnh độc đáo, gợi cảm, Nguyễn Tuân đã khắc hoạ được hình ảnh một con sông Đà rất dữ dằn và hung bạo.
1. Hung bạo ở chỗ đôi bờ xích gần nhau, làm cho lòng sông hẹp lại như cái yết hầu thắt lại giữa hai vách đá dựng đứng, hiểm trở: “Ở đây, con nai, con hổ đã có lần vọt từ bờ này sang bờ kia. Ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè cũng thấy lạnh, cảm thấy mình như đang đứng ở hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ nhà nào, trên cái tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện”.
2. Hung bạo ở cái dữ dằn của gió: “Lại như quãng mặt ghềnh Hát Loóng, dài hàng cây số”, gió phối hợp với nước, với đá, với sóng tạo nên những cơn xoáy thật kinh hãi: “Nước xô đá, đá xô sóng, cuồn cuộn luồng gío gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất cứ người lái đò sông Đà nào tóm được qua đây”.
3. Hung bạo dữ dằn hơn nữa là “những cái hút nước giống như những cái giếng bê tông thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu”… “Trên mặt cái hút xoáy tít đáy ấy, cũng đang quay lừ đừ những cánh quạ đàn”. Nước ở đó cứ “ặc lên như vừa rót dầu sôi vào”. Đúng là con sông Đà không khác gì một loài hung thú, đi đến đâu là gieo giắc tử khí đến đó. Cho nên “Không thuyền nào dám men gần những cái hút nước ấy”… “Nhiều bè gỗ rừng đi nghênh ngang vô ý là những cái giếng ấy nó lôi tuột xuống. Có những thuyền đã bị cái hút nó hút xuống, thuyền trồng ngay cây chuối ngược rồi vụt biến đi, bị dìm và ngâm dưới lòng sông đến mươi phút sau mới thấy tan xác ở khuỷu sông dưới”. Cách so sánh, ví von, mô tả của tác giả gây cảm giác rất mạnh làm cho người đọc như nghe thấy được, nhìn thấy được cái hung dữ của sông Đà mà thót tim lại.
4. Nhưng con sông Đà hùng vĩ mà hung bạo nhất là ở mấy chục con thác đá tạo thành các “trùng vây thạch trận” vô cùng hiểm trở với biết bao cửa tử. Con sông Đà đã trở thành một loài thuỷ quái vừa hung ác, vừa nham hiểm. Khi còn ở xa đã lắng nghe được tiếng nước thác “như oán trách”, “như là van xin”, rồi lại “như là khiêu khích, chế nhạo”. Khi tới gần thì “mặt sông rung tít lên như tuyếc bin thuỷ điện”. Lòng sông thì trắng xoá làm bật nổi những tảng đá dàn bày thế trận, tảng nào, hòn nào “trông cũng ngỗ nghịch” và như những vị tướng “có vị trông oai phong lẫm liệt”, “có vị thì như là đang hất hàm hỏi cái thuyền phải xưng tên, xưng tuổi trước khi giao chiến”. Có vị lại “lùi một chút và thách thức con thuyền có giỏi thì tiến gần vào”. Những tri thức về quân sự, võ thuật, thể dục, thể thao, điện ảnh… cùng với việc sử dụng hình ảnh mới lạ đến bất ngờ và những hình ảnh nhân hoá rất chọn lọc của Nguyễn Tuân được dịp ném ra để diễn tả sự độc ác, xảo quyệt hết sức nguy hiểm của con thác đá “trông nó thành ra diện mạo và tâm địa một thứ kẻ thù số một” của con người. Khi thì nó mai phục để đột nhiên “nhổm cả dậy để vồ lấy con thuyền” nơi khúc sông ngoặt. Khi thì nó tỏ ra sơ hở “dụ cái thuyền đối phương đi vào sâu nữa” rồi bất ngờ quay lại “đánh khuýp quật vu hồi”. Khi đã giáp lá cà thì nó “liều mạng”, “đá trái mà thúc gối vào bụng và hông thuyền”, bẻ gãy cán chèo võ khí trên tay ông lái, rồi còn đánh bằng “đòn âm”, “đòn tỉa” vào chỗ hiểm. Nước “bám lấy thuyền như đô vật túm thắt lưng ông đò, đòi lật ngửa mình ra giữa trận nước vang trời thanh la não bạt”. Nước thác vừa đánh, vừa reo hò, la hét vang động cả một vùng sông nước hoang vu. “Nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu, rừng tre nứa nổ lửa” và khi con thuyền du kích chọc thủng được tuyến hai thì “nhiệm vụ của những bom khe chìm và pháo đài đá nổi phải đánh tan cái thuyền lọt lưới đá ở tuyến trên, phải tiêu diệt tất cả thuyền trưởng, thuỷ thủ ngay ở chân thác”.
B. Tính cách trữ tình
Qua cách mô tả đặc sắc của Nguyễn Tuân, con sông Đà có hai nét tính cách có vẻ như đối lập nhau: vừa hùng vĩ, hung bạo, dữ dằn, vừa trữ tình, thơ mộng và rất gợi cảm. Nguyễn Tuân đã nhìn con sông Đà bằng con mắt thẩm mĩ văn hoá để phát hiện ra những vẻ đẹp và sắc màu đa dạng của con sông chảy dọc suốt miền Tây Bắc này.
1. Từ trên cao “mà nhìn xuống đất nước Tổ quốc bao la… con sông Đà tuôn dài, tuôn dài như một áng tóc trữ tình” mà “đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban, hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”.
2. Nguyễn Tuân đã nhận ra những sắc màu khác nhau của sông Đà theo từng mùa mang vẻ đẹp riêng. Qua làn mây mùa xuân, sông Đà “xanh màu ngọc bích”. Qua ánh nắng mùa thu “sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu bữa”.
3. Nguyễn Tuân cũng dùng những hình ảnh dịu dàng trong sáng nhất để tả sông Đà. Sông Đà như “một cố nhân” xa cách thì nhớ nhung, lưu luyến. Sông Đà còn ẩn chứa biết bao chất thơ trong nó. Có chất thơ hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích; có chất thơ cổ điển Đường thi; có chất thơ tươi trẻ “vui như nắng giòn tan sau kì mưa dầm”. Có khi lại ẩn chứa chất trữ tình “Sông Đà bọt nước lênh đênh/ Bao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình” của Tản Đà gửi “một người tình nhân chưa quen biết.”
4. Dưới con mắt của tác giả “Vang bóng một thời”, cảnh ven sông Đà ở đây lặng tờ cổ xưa như chảy từ đời Lí, đời Trần, đời Lê đến nay. Và giữa cái không khí phảng phất màu tiền sử ấy, thỉnh thoảng có “đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông bụng trắng như bạc rơi thoi”. Tiếng cá đập nước sông làm cho đàn hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ và tai lắng nghe một tiếng còi sương, một âm thanh vẳng đưa trong tưởng tượng gợi lên không khí thật tĩnh lặng, hoang vắng, nhưng chứa chan thi vị. Đắm mình trong vẻ đẹp trữ tình sông Đà, Nguyễn Tuân “như càng lai láng thêm cái lòng muốn đề thơ vào sông nước.” 
III. Kết luận
1. Như vậy, để làm nổi bật cái hùng vĩ, hung bạo dữ dằn và vẻ đẹp thơ mộng trữ tình, gợi cảm của sông Đà, Nguyễn Tuân đã có những sáng tạo nghệ thuật độc đáo như cách sử dụng từ ngữ giàu màu sắc tạo hình, sử dụng hình ảnh đặc sắc, khả năng so sánh, liên tưởng bất ngờ, những biện pháp nhân hoá, ẩn dụ, năng lực quan sát tưởng tượng đặc biệt.

2. Sông Đà đã trở thành một công trình nghệ thuật tuyệt vời của tạo hoá, làm thoả mãn nhu cầu thẩm mĩ và bồi đắp cho độc giả tình yêu, niềm tự hào về vẻ đẹp đa dạng của thiên nhiên Tổ quốc.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét