26 tháng 7 2015

Phân tích truyện ngắn Đời thừa của Nam Cao

Đề 5: “Đời thừa” là truyện ngắn xuất sắc của Nam Cao viết về người trí thức tiểu tư sản nghèo trong xã hội cũ. Anh (chị) hãy:
   1. Phân tích tấn bi kịch tinh thần của Hộ trong thiên truyện ngắn này.
   2. Làm rõ tư tưởng nhân đạo sâu sắc, mới mẻ của Nam Cao qua việc thể hiện tấn bi kịch tinh thần ấy.
   3. Chỉ ra những nét đặc sắc về nghệ thuật của tác phẩm.
ÔN THI ĐẠI HỌC MÔN VĂN, XEM VÀ MUA SÁCH HAY TẠI ĐÂY!

ĐÁP ÁN - HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
I. Giới thiệu khái quát về Nam Cao, truyện ngắn “Đời thừa” và bi kịch tinh thần của nhân vật Hộ.
- Nam Cao (1915-1951) là một nhà văn hiện thực lớn có tư tưởng nhân đạo rất sâu sắc, phong phú và mới mẻ.
   - Là một nhà văn kiêm giáo khổ trường tư, ông am hiểu khá tường tận cuộc sống của tầng lớp trí thức tiểu tư sản nghèo. Vì vậy, viết về tầng lớp này, ông đã khám phá ra nhiều tấn bi kịch tinh thần có tầm cỡ thời đại. Một trong những bi kịch đó là người trí thức khao khát làm một sự nghiệp tinh thần cao cả để nâng cao ý nghĩa, giá trị sự sống của con người, nhưng kết cục bị cuộc sống tàn nhẫn đẩy vào kiếp “Đời thừa”; coi trọng và muốn sống theo nguyên tắc tình thương nhưng chính mình lại vi phạm vào lẽ sống cao đẹp đó. Nhân vật Hộ trong tác phẩm “Đời thừa” (1943) được Nam Cao miêu tả một cách chân thực và hấp dẫn là hiện thân của hai tấn bi kịch nói trên.
2. Phân tích những bi kịch tinh thần của Hộ và cũng là của tầng lớp trí thức tiểu tư sản nghèo trong xã hội cũ.
   a. Giải thích khái niệm: Bi kịch hiểu theo nghĩa thông thường là nỗi đau khổ vò xé triền miên về tinh thần, không có cách gì thoát được. Nhưng hiểu theo văn học thì bi kịch chỉ xảy ra khi có sự xung đột giữa khát vọng, hoài bão, lí  tưởng chân chính với thực tại. Thực tại chưa đủ điều kiện cho phép cuộc sống nhân thực hiện hoài bão, lí tưởng của mình nên rơi vào thất bại, sống trong dằn vặt đau đớn, thậm chí dẫn đến cái chết thảm thương.
   b. Bi kịch tinh thần của Hộ thể hiện ở những mặt sau:
   - Bi kịch trong sự nghiệp: Vỡ mộng
   Hộ là một nhà văn có tài năng, có khát vọng, hoài bão lớn lao và lương tâm cáo cả. Anh muốn “nâng giá trị đời sống” của mình bằng sự sáng tạo nghệ thuật có ích cho xã hội. Với anh, văn chương là trên hết. “Đói rét không có nghĩa lí gì đối với gã trẻ tuổi say mê lí tưởng…”… “ Hắn muôn vun xới tài năng cho ngày càng nảy nở”. Cả đời mình, Hộ phấn đấu cho một sự nghiệp văn chương chân chính, có ích cho mọi người bởi những tác phẩm giàu tính sáng tạo “biết đào sâu, khám phá, khơi những nguồn chưa ai khơi” và mang nội dung nhân đạo thấm thía. “Nó ca tụng tình thương, lòng bác ái, sự công bằng. Nó làm cho người gần người hơn”. Không những thế, Hộ còn hi vọng tác phẩm của mình sẽ đạt tới đỉnh vinh quang: “Cả một đời tôi, tôi sẽ chỉ viết một quyển thôi, nhưng quyển ấy sẽ ăn giải Noben và dịch ra mọi thứ tiếng trên hoàn cầu”.
- Những ý nghĩ ấy không chứng tỏ Hộ là con người hám danh mà chỉ chứng tỏ anh là nghệ sĩ có hoài bão lớn lao, có lí tưởng cao đẹp. Hộ muốn khằng định cá nhân mình trước cuộc đời, muốn cống hiến tài năng tận độ cho xã hội, không bằng lòng với cuộc sống tầm thường, vô danh, vô nghĩa lí.
   - Nhưng cuộc sống tàn nhẫn với những lo toan vặt vãnh hằng ngày: “Nỗi đời cơ cực đang giơ vuốt. Cơm áo không đùa với khách thơ” (Xuân Diệu) đã phá vỡ giấc mộng đẹp của Hộ. Vì phải kiếm được nhiều tiền để nuôi sống gia đình, thuốc thang cho vợ con, Hộ không thể viết một cách thận trọng theo yêu cầu nghiêm ngặt của nghệ thuật chân chính, mà phải viết một cách vội vàng, cẩu thả, chạy theo một thứ văn chương tầm thường “vô vị, nhạt nhẽo”. Là một nhà văn chân chính giàu tài năng, Hộ ý thức được điều đó, anh cảm thấy xấu hổ và tự lên án mình “như một thằng khốn nạn ... Hắn chính là một kẻ bất lương… Là đê tiện… là một kẻ vô ích, một người thừa…” nhưng vẫn không thể nào khác được. Hộ cứ day dứt đau khổ mãi.
- Bi kịch trong gia đình: bi kịch tự mình chà đạp lên lẽ sống tình thương, nhân cách làm người. Hộ coi trọng và muốn sống theo nguyên tắc tình thương nhưng lại vi phạm vào lẽ sống cao đẹp ấy, để rồi ăn năn, sám hối. Hộ cưu mang Từ “Nhận Từ làm vợ, nuôi mẹ già, con dại cho Từ, đứng ra làm ma cho bà mẹ Từ”. Hộ đã có lúc nghĩ đến chuyện tự gỡ bỏ những sợi dây ràng buộc tình thương để theo đuổi giấc mộng văn chương. Trong cơn khủng hoảng bế tắc, muốn được giải thoát, Hộ nghĩ đến câu nói của một nhà triết học sặc mùi phát xít: “Phải biết ác, biết tàn nhẫn để sống cho mạnh mẽ”. Nhưng rồi Hộ đã phản đối lại triết lí sức mạnh đó, để đi theo triết lí sống tình thương, đầy nhân bản của mình “kẻ mạnh không phải là kẻ giẫm lên vai kẻ khác để thoả mãn lòng ích kỉ. Kẻ mạnh chính là kẻ giúp đỡ kẻ khác trên đôi vai mình”.
Như vậy, đối với Hộ (cũng là với Nam Cao) tình thương yêu, lòng nhân ái là tiêu chuẩn cao nhất quyết định tư cách làm người.
   3. Tư tưởng nhân đạo sâu sắc, mới mẻ của Nam Cao
   a. Phát hiện và phân tích sâu sắc tấn bi kịch tinh thần đau đớn của Hộ, Nam Cao đã tố cáo xã hội đã đày đoạ con người trong sự nghèo đói, vùi dập những ước mơ, làm chết mòn đời sống tinh thần và lẽ sống, nhân cách cái đẹp của con người.
   b. Trong khi miêu tả con người bị đẩy vào tình trạng có những hành động tàn nhẫn, nằm bên bờ vực tha hoá, Nam Cao vẫn dứt khoát không chấp nhận cái ác, vẫn kiên định giữ vững nguyên tắc tình thương của mình., quyết “không bỏ tình thương”. Những giọt nước mắt đầy xót thương chảy dài cuối tác phẩm đã cho thấy điều đó.
c. Trước Cách mạng tháng Tám, Nam Cao thuộc thế hệ nhà văn những năm khoảng 1930 đến 1945, họ đã thức tỉnh sâu sắc ý thức cá nhân về sự tồn tại có ý nghĩa của mỗi cá nhân trên đời. Với “Đời thừa”, Nam Cao đã đồng tình với khát vọng được cống hiến, được sáng tạo của người nghệ sĩ chân chính. Qua tấn bi kịch tinh thần của nhà văn Hộ, Nam Cao thể hiện khát vọng của con người vươn tới một cuộc sống có ích, có ý nghĩa, được phát huy cao độ khả năng tiềm tàng chứa đựng trong mỗi con người. Nam Cao bênh vực con người, đặt niềm tin vào con người và lên án hoàn cảnh xã hội tàn nhẫn đã đẩy con người vào những bi kịch vỡ mộng (“Đời thừa”, “Sống mòn”), hoặc vào những trạng thái phi nhân tính (“Chí Phèo”). Từ đó vút lên tiếng kêu khẩn thiết: “Hãy tiêu diệt hoàn cảnh xã hội đen tối, bất công, phi nhân tính đương thời thì mới chấm dứt được những bi kịch đau đớn nói trên”.
d. Tóm lại, tư tưởng nhân đạo thấm nhuần trong sáng tác của Nam Cao. Ở đây, một mặt nhà văn kế thừa tư tưởng nhân đạo truyền thống, mặt khác lại có thêm những nét sâu sắc, mới mẻ. Nam Cao xứng đáng là nhà văn hiện thực xuất sắc, nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn.
4. Những đặc sắc về nghệ thuật.
a. Cách dựng truyện tự nhiên, dung dị nhưng vẫn gây được ấn tượng sâu đậm và tạo được hiệu quả nghệ thuật cao. Cách dẫn truyện linh hoạt, phóng túng mà vẫn nhất quán, chặt chẽ.
   b. Xây dựng thành công một nhân vật thuộc loại nhân vật tư tưởng (Hộ), nhưng vẫn có tính cách, cá tính và bản chất xã hội xác định.
   c. Nghệ thuật miêu tả, phân tích tâm lí đạt tới trình độ bậc thầy (Nam Cao phân tích rất sâu sắc, tinh tế những giằng xé trong tâm trạng nhân vật). Trước hết là những day dứt của Hộ về nghề nghiệp… Sau nữa là những dằn vặt của Hộ về nhân cách. Hộ vốn là một người nhân hậu, vị tha. Trong bất cứ hoàn cảnh nào anh cũng không vứt bỏ tình thương, làm một kẻ tàn nhẫn. Nhưng khi rơi vào khủng hoảng, quẫn bách, anh đã trút hết nỗi uất ức, buồn bực lên vợ con, gây đau khổ cho người mà mình hết lòng yêu thương, rồi sau đó lại tự dày vò, sám hối, ân hận vì chính điều đó.
   - Nam Cao đã khéo léo tạo tình huống đầy kịch tính để đẩy xung đột nội tâm của nhân vật lên đến đỉnh điểm. Hộ lâm vào một mâu thuẫn không thể dung hoà giữa sống với hoài bão nghệ thuật và sống theo nguyên tắc tình thương. Hộ luôn luôn rơi vào bế tắc. Điều đó làm cho anh rơi vào cái vòng luẩn quẩn: khát vọng → thất vọng → nhẫn tâm → hối hận → khát vọng →thất vọng ngày càng nặng hơn.
   d. Ngôn ngữ và giọng văn rất đặc sắc

   Nam Cao rất linh hoạt trong việc sử dụng ngôn ngữ để miêu tả nội tâm. Có đoạn nhà văn dùng lời người kể chuyện để miêu tả nội tâm. Có đoạn nhà văn dùng lời kể chuyện để miêu tả tâm lí nhân vật: “Hắn băn khoăn nghĩ đến một tác phẩm làm mờ hết các tác phẩm khác cùng ra một thời” có khi là lời nhân vật tự biểu hiện nội tâm của mình: “Ta đành phí một vài năm để kiếm tiền”. Có khi, vừa là lời kể chuyện, vừa là lời từ nội tâm nhân vật: “Khốn nạn! Khốn nạn thay cho hắn… Chao ôi!”. Tất cả đã góp phần diễn tả sinh động tâm lí nhân vật Hộ.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét