18 tháng 7 2015

Sự nghiệp sáng tác văn học của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nêu những nét chính trong sự nghiệp sáng tác văn học của Chủ  tịch Hồ Chí Minh

Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh không chỉ là một vị anh hùng dân tộc lỗi lạc mà còn là một nhà văn, nhà thơ lớn. Trước lúc từ biệt thế giới này, Người đã để lại cho nhân dân ta, đất nước ta những di sản tinh thần vô giá. Trong số đó phải kế đến một sự nghiệp văn chương vừa phong phú về thể loại, vừa đa dạng về phong cách, vừa sâu sắc về tư tưởng.
1. Trước hết là văn chính luận.
Đó là những sáng tác viết ra chủ yếu nhằm mục đích đấu tranh chính trị, tấn công trực diện kẻ thù hoặc thể hiện những nhiệm vụ cách mạng cụ thể qua từng chặng đường lịch sử.
a. Những sáng tác chủ yếu bằng tiếng Pháp, viết vào những năm 20 của thế kỉ XX, đăng trên các báo “Nhân đạo”, “Người cùng khổ”, “Đời sống thợ thuyền”, tiêu biểu nhất là tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” đã có tác động mạnh mẽ đối với độc giả; nhất là những độc giả nói tiếng Pháp. Bằng những dẫn chứng tiêu biểu, chính xác, bằng phương pháp lập luận chặt chẽ, sắc bén, Nguyễn Ái Quốc chẳng những đã lột trần được chân tướng, bản chất tàn bạo, nham hiểm của thực dân Pháp, mà còn gây ảnh hưởng lớn đối với công chúng Pháp và thức tỉnh, kêu gọi những người nô lệ đoàn kết lại trong một mặt trận đấu tranh chung.
b. “Tuyên ngôn độc lập” là một văn kiện chính trị có giá trị lịch sử lớn lao, phản ánh khát vọng độc lập - tự do và cuộc đấu tranh kiên cường, bền bỉ của dân tộc để giành thắng lợi; tuyên bố một cách hùng hồn quyền độc lập dân tộc của Việt Nam trước nhân dân toàn thế giới và đồng bào cả nước. “Tuyên ngôn độc lập” còn là một tác phẩm chính luận có giá trị pháp lí, lịch sử, nhân bản và phẩm chất nghệ thuật đặc biệt.
Ngoài ra, Bác còn viết “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, lời kêu gọi chống Mĩ cứu nước: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, “Di chúc”… Những tác phẩm ấy được viết bằng trí tuệ của một bậc anh hùng kiệt xuất, một trái tim rực cháy của nhà ái quốc vĩ đại. Trong các tác phẩm ấy, Người không chỉ nêu lên những vấn đề thời sự cấp bách của dân tộc mà còn cất tiếng gọi vang dậy non sông với toàn thể đồng bào trước vận mệnh hiểm nghèo của đất nước; đồng thời còn gửi vào từng câu chữ muôn vàn tình thương yêu của Bác đối với toàn Đảng, toàn dân ta.

2. Truyện và kí
a. Trước hết phải kể đến tập “Truyện và kí của Nguyễn Ái Quốc” được viết trong khoảng từ năm 1922 đến 1925. Đây là tập truyện kí rất đặc sắc được viết với bút pháp đầy sáng tạo, giàu chất trí tuệ và rất hiện đại. Truyện của Bác cô đọng, hàm súc, cốt truyện biến hoá linh hoạt, kết cấu độc đáo, hình tượng mới mẻ, giàu ý nghĩa thẩm mĩ. Tiêu biểu là các tác phẩm “Vi hành”, “Lời than vãn của bà Trưng Trắc”, “Những trò lố hay là Varen và Phan Bội Châu”, “Con rùa”…Những truyện này, một mặt đã vạch trần bộ mặt tàn ác, xảo trá, bịp bợm của chính quyền thực dân, châm biếm một cách thâm thuý, sây cay vua quan phong kiến ôm chân thực dân xâm lược; mặt khác, bộc lộ lòng yêu nước nồng nàn và tự hào về truyền thống bất khuất của dân tộc Việt Nam.
b. Trong kháng chiến chống Pháp, Bác viết truyện “Giấc ngủ mười năm” rất giàu tính chất lãng mạn, lạc quan cách mạng. Người còn viết nhiều tác phẩm kí như “Nhật kí chìm tàu”, “Vừa đi đường vừa kể chuyện” (1963)

3. Thơ ca.
Đây là lĩnh vực nổi bậtnhất trong sự nghiệp sáng tạo nghệ thuật của Người: “Nhật kí trong tù” (1960), “Thơ Hồ Chí Minh” (1967)…
a. “Nhật kí trong trong tù”: Thời kì 1942 – 1943, Bác Hồ sang Trung Quốc với tư cách là “đại biểu dân Việt Nam”, song Người đã bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam 14 tháng trời. Chính trong thời gian này, Bác đã viết “Nhật kí trong tù”, bằng bút pháp vừa cổ điển mang màu sắc Đường thi; vừa rất hiện đại, giàu phẩm chất cách mạng, vui say cảnh đẹp thiên nhiên, yêu nước, thương dân, chứa chan tinh thần nhân đạo và tràn đầy niềm lạc quan tươi sáng… Thơ Người thâm thuý, súc tích, “ý tại ngôn ngoại”, chấm phá như tranh thuỷ mặc.
- Tác phẩm vừa là bức tranh chân thực về mặt tàn bạo của nhà tù Quốc Dân đảng và một phần xã hội Trung Quốc những năm 1942 – 1943, vừa là một bức chân dung tinh thần tự hoạ của một tù nhân vĩ đại có tâm hồn vô cùng phong phú, cao đẹp. Yêu nước thiết tha, khát khao tự do cháy bỏng, yêu thương con người bao la, nhạy cảm với cảnh đẹp thiên nhiên, bất khuất, kiên cường, ung dung tự tại, tràn đầy niềm lạc quan.
b. Bác Hồ còn viết nhiều bài thơ với bút pháp giản dị nhằm tuyên truyền đường lối của Đảng và động viên nhân dân hăng hai tham gia cách mạng như “Bài ca thợ thuyền”, “Bài ca dân cày”, “Bài ca thiếu niên”, “Bài ca du kích, “Bài ca sợi chỉ””…
c. Trong thời kì kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, Bác cũng viết nhiều bài thơ tức cảnh, trữ tình thể hiện chất trữ tình đằm thắm và cảm hứng anh hùng ca thời đại của bậc đại trí, đại dũng; với tâm hồn lạc quan tươi sáng, với phong thái ung dung tự tại và một tấm lòng luôn canh cánh nỗi niềm lo âu cho “nỗi nước nhà”. Tiêu biểu là các bài thơ: “Cảnh khuya”, “Báo tiệp”, “Nguyên tiêu”, “Tức cảnh Pắc Bó”, “Pắc Bó hùng vĩ”, “Thượng sơn”, “Đi thuyền trên sông Đáy”, “Vô đề”…
Kết luận: Là một vĩ nhân suốt đời “chỉ có một sự ham muốn”, “ham muốn tột bậc”, đó là độc lập của Tổ quốc, hạnh phúc của nhân dân, Bác không xem sự nghiệp văn thơ là sự nghiệp chính của mình. Song không vì thế mà sự nghiệp văn thơ của Bác không trở thành di sản vô giá. Trái lại, văn thơ của Người là tiếng nói tâm hồn của một bậc “đại trí, đại nhân, đại dũng” ( Viên Ưng) luôn luôn lạc quan, tin vào sức mạnh của chân lí và của con người vươn tới Chân - Thiện – Mĩ. Bởi thế, tiếng nói ấy chính là “lời non nước” dành cho con cháu hôm nay và cả mai sau.

Trích trong cuốn: Để viết được bài văn thi đại học đạt điểm cao Các bạn tìm mua tại    Đây   nhé. 

0 nhận xét:

Đăng nhận xét