01 tháng 8 2015

Bình giảng 3 khổ đầu bài Bên kia sông Đuống

Đề 2: Anh (chị) hãy phân tích - bình giảng đoạn thơ dưới đây, trích trong bài “Bên kia sông Đuống” của nhà thơ Hoàng Cầm.
“Em ơi buồn làm chi
Anh đưa em về bên kia sông Đuống
Ngày xưa cát trắng phẳng lì

Sông Đuống trôi đi
Một dòng lấp lánh
Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì.

Xanh xanh bãi mía bờ dâu
Ngô khoai biêng biếc
Đứng bên này sông sao nhớ tiếc
Sao xót xa như rụng bàn tay.

Bên kia sông Đuống
Quê hương ta lúa nếp thơm nồng
Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp
Quê hương ta từ ngày khủng khiếp
Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn
Ruộng ta khô, nhà ta cháy
Chó ngộ một đàn
Lưỡi dài lê sắc máu
Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang
Mẹ con đàn lợn âm dương
Chia lìa đôi ngả
Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã
Bây giờ tan tác về đâu”
(Văn học 12, tập I, trang 79-80)
SÁCH HAY ĐỂ ÔN ĐẠI HỌC MÔN VĂN
ĐÁP ÁN - HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
   I. Giới thiệu khái quát về Hoàng Cầm, bài thơ “Bên kia sông Đuống”, vị trí đoạn thơ và hoàn cảnh ra đời.
   1. Hoàng Cầm (tên thật là Bùi Tằng Việt) là một trong những gương mặt tiêu biểu của thơ ca hiện đại. Hồn thơ ấy rộng mở, rất mực tài hoa, gắn bó thiết tha với con người và đất nước, quê hương , đặc biệt là vùng quê Kinh Bắc với truyền thống văn hoá và sự giàu đẹp đã vào thơ ông lung linh, thắm thiết.
   2. “Bên kia sông Đuống” là bài thơ đặc sắc nhất của Hoàng Cầm về đề tài quê hương đất nước. Tháng tư năm 1948, nhận được tin quê hương bị giặc tàn phá “khủng khiếp”, Hoàng Cầm đã viết bài thơ này trong “niềm căm giận và thương cảm sâu sắc” như chính nhà thơ đã có lần tâm sự.
   3. Đoạn trích bình giảng là đoạn thứ nhất và thứ hai của bài thơ. Đoạn thơ thứ nhất đóng vai trò định hướng cho những tình cảm lớn toàn bài. Đây là bức tranh toàn cảnh quê hương bên kia sông Đuống giàu đẹp trong cuộc sống thanh bình được ghi lại trong tình yêu thương, tự hào, xót xa nuối tiếc. Đoạn thứ hai: quê hương ta còn có một nền văn hoá vừa giàu màu sắc dân gian, vừa đậm đà màu sắc dân tộc, giờ đây đang bị giặc Pháp tàn phá “khủng khiếp”.
   II. Phân tích, bình giảng đoạn đầu
   1. Câu mở đầu và điểm nhìn của tác giả
Đoạn thơ thứ nhất gồm mười câu mở ra một cái nhìn toàn cảnh từ bên này nhìn sang bên kia: Toàn cảnh về không gian và thời gian:
                “Em ơi buồn làm chi
                … Ngày xưa”
- Câu thơ vang lên như một tiếng gọi thiết tha, thân thương trìu mến. Và đó cũng là tiếng gọi nhằm bày tỏ sự khuyên nhủ, vỗ về, an ủi rất chân tình.
- Đại từ nhân xưng “em” ở đây mang nhiều ý nghĩa và rất gợi cảm. Có thể có thật, có thể phiếm chỉ như một đối tượng để tâm tình, sẻ chia. Và cũng có thể đó là sự phân thân của tâm hồn tác giả, một tâm hồn đang day dứt biết bao “nỗi khắc khoải” để tạo cớ hoài niệm trở về bên kia sông Đuống ngày xưa. Câu thơ được viết toàn thanh bằng rất êm dịu.
2. Hình ảnh con sông Đuống trong hoài niệm của Hoàng Cầm
Hình ảnh dòng sông Đuống hiện lên cụ thể trong tâm tưởng nhà thơ: hiện ra trong không gian và thời gian. Nó trở thành nhân vật, là linh hồn của bức tranh về quê hương rất sinh động thuở còn thanh bình. Chú ý phân tích các từ “trôi đi”, “lấp lánh” và cách ngắt nhịp thành hai dòng thơ, mỗi dòng bốn chữ gây ấn tượng về sự êm đềm, yên ả, hiền hoà, chậm rãi nhưng bất tận và bất diệt giữa lòng đất nước đẹp lung linh, rực rỡ.
- Con sông Đuống hiền hoà là thế mà giờ đây khi quân giặc tràn về bỗng dưng trở thành một sinh thể, được nhân hoá thành một nhân vật xinh xắn, duyên dáng, lãng mạn và có tâm trạng khắc khoải, lo âu “vật vã”, “thao thức”: “Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì”. Câu thơ Hoàng Cầm tạo được một hình ảnh đầy ấn tượng, gây cảm giác xáo trộn không gian với thời gian.
3. Hình ảnh bờ bãi của dòng sông gắn liền với sự trù phú của quê hương
- Hình ảnh “bãi mía, bờ dâu” đi với từ láy “xanh xanh”, “ngô khoai” đi với từ láy “biêng biếc” gợi lên sự trù phú, màu mỡ của đất đai và sự sống thanh bình, hạnh phúc cứ mở ra vô tận, hút tầm mắt, trong niềm yêu thương, tự hào xem lẫn nỗi nhớ tiếc khôn nguôi của tác giả.
4. Nỗi đau tiếc, xót xa của tác giả
Sự chuyển đổi cảm xúc một cách đột ngột. Đứng bên này sông, nhìn sang bên kia trong cảnh hiện tại bị giặc chiếm đóng, lòng tác giả “nhớ tiếc”, “xót xa” đến bàng hoàng, quặn thắt. Chú ý bình điệp từ “sao” và hình ảnh so sánh đặc sắc “như rụng bàn tay” khiến cho nỗi đau có hình khối, như một bộ phận của thân thể bị cắt lìa.
Tóm lại mười dòng thơ đoạn mở đầu bài thơ là toàn cảnh quê hương được gợi về trong niềm yêu thương, tự hào xen lẫn nhớ tiếc, bâng khuâng của tác giả. Sự đan xen và hoà lẫn những cảm xúc ấy đã tạo nên sức truyền cảm và lay động mạnh mẽ tâm hồn độc giả.
III. Phân tích, bình giảng đoạn thơ thứ hai
1. Quê hương ta có đời sống vật chất giàu có, đời sống tinh thần phong phú với một nền văn hoá độc đáo vừa đậm đà tính chất dân gian, vừa giàu tính dân tộc.
- Sự trù phú, tươi đẹp của quê hương được kết tinh ở một hình ảnh thật gợi cảm, nên thơ “Quê hương ta lúa nếp thơm nồng”. Chú ý phân tích, bình giảng hình ảnh “lúa nếp thơm nồng”. Liên hệ với những câu thơ của tác giả có hình ảnh hương nếp gợi về quê hương Việt Nam thân thuộc nghìn đời.
- Đời sống tinh thần được kết tụ trong nét văn hoá truyền thống rất đặc sắc: “Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong. Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp”. Cần phân tích sâu hai câu thơ này. Tác giả đã nêu bật cái chất dân gian, cái hồn dân tộc của tranh Đông Hồ từ đề tài, ý nghĩa đến màu sắc, chất liệu độc đáo.  Các từ “tươi trong”, “sáng bừng”có khả năng vừa gợi tả, vừa biểu hiện cảm xúc của tác giả. Đặc biệt là nghĩa của cụm từ “màu dân tộc” rất đặc sắc. Nó vừa có nghĩa cụ thể: Chất liệu, màu sắc lấy từ đất đá, cây cỏ của quê hương, vừa có nghĩa bóng: hình ảnh quen thuộc trong đời sống hằng ngày, nghệ thuật vẽ tranh dân gian. Tất cả tạo nên bản sắc dân tộc độc đáo. Qua đó, bộc lộ niềm tự hào của nhà thơ về truyền thống văn hoá.
2. Quê hương ta tan tác, chia lìa khi quân giặc tràn về.
- Quê hương ta “Bên kia sông Đuống” thanh bình, giàu đẹp, yên vui là thế nhưng khi giặc Pháp hung tàn tràn về, tất cả phút chốc đã trở nên đổ vỡ, tan tác, chia lìa, khổ đau “khủng khiếp”. Cuộc sống thanh bình, nên thơ, trù phú của vùng Kinh Bắc giờ chỉ còn là những kỉ niệm xót xa, đau tiếc. Bao trùm lên quê hương là “ngọn lửa ngùn ngụt hung tàn” thiêu huỷ xóm làng, là sự chết chóc, khô héo, điêu linh. Nổi lên là hình ảnh bọn giặc điên cuồng như một đàn chó dại reo rắc tử khí khắp nơi. Chú ý hình ảnh ẩn dụ này rất chính xác và gợi cảm đã làm nổi bật lên được bản chất tàn bạo đầy thú tính của kẻ thù và thái độ vừa khinh bỉ, vừa căm uất của nhà thơ đối với quân xâm lược.
- Nhịp thơ chỗ này cũng ngắt thành từng dòng, từng nhịp như những tiếng nấc nghẹn ngào, đầy đau thương, căm giận của tác giả.
Quê hương đã bị tàn phá thì chẳng những con người bị rơi vào cảnh ngộ tan tác, chia lìa mà cả những bức tranh làng Hồ cũng chung số phận:
                “Mẹ con đàn lợn âm dương
                … Bây giờ tan tác về đâu”
Cái tài của nhà thơ là đã tạo được nhiều hình ảnh vừa thực, vừa ảo rất thú vị. Ở đây cảnh trong tranh và cảnh ngoài đời hoà vào nhau khó mà phân biệt được. Phải chăng, giặc dày xéo lên quê hương gây nên cảnh tan tác, chia lìa cho con người, đồng thời cũng là dày xéo lên một nền văn hoá nghìn đời đáng yêu, đáng quý của dân tộc ta một cách phũ phàng?
- Nét nghệ thuật đặc sắc ở đoạn thơ này còn thể hiện ở việc sử dụng thủ pháp đối lập giữa hai cảnh xưa và nay: xưa là yên vui, sum họp còn nay là “tan tác”, “chia lìa” và đặc biệt câu thơ “Bây giờ tan tác về đâu” như một câu hỏi còn được nhắc lại ở đoạn sau thành một điệp khúc xoáy sâu vào trái tim độc giả một nỗi xót xa, tiếc thương, đau đớn đến nhức nhối.                                     

Tóm lại đoạn thơ với những đặc sắc nghệ thuật rất độc đáo có giá trị biểu cảm đặc biệt đã thể hiện được một cách thấm thía và sâu sắc niềm yêu thương, tự hào về quê hương giàu đẹp, có truyền thống văn hóa giàu màu sắc dân gian và dân tộc, cùng nỗi đau đớn, xót xa, căm giận tiếc thương của nhà thơ trước cảnh quê hương bị quân thù giày xéo một cách tàn bạo, dã man.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét