15 tháng 8 2015

Bình giảng khổ thơ năm bài thơ Tây tiến

Câu 2.3: Bình giảng đoạn thơ sau trong bài “Tây Tiến” của Quang Dũng. 
         “Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có thấy dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

MUA TẠI ĐÂY, SÁCH HAY ÔN ĐẠI HỌC MÔN NGỮ VĂN

                                                                 Bài làm
      “Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy
      Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi…”
Xin được nhắc lại hai câu thơ này để nhận thấy rằng, Quang Dũng không chỉ “nhớ chơi vơi” mà còn nhấn mạnh đến sự bất biến của cảnh Tây Bắc và con người đoàn quân Tây Tiến. Hồn chỉ về Sầm Nứa xa xôi, hẻo lánh mà không về xuôi. Sức hút từ rừng thiêng nước độc sao ghê gớm đến vậy. Chắc có lẽ Quang Dũng đã dành tình cảm cho người đồng chí, đồng đội thân yêu của mình, không phải chỉ ở một đêm ở Phù Lưu Chanh mà là mãi mãi. Đọc từng khổ thơ, dòng thơ “Tây Tiến” vì lẽ ấy mà ta nhận ra cái tình trong cõi lòng của nhà thơ còn nặng lắm, mênh mang lắm. Khổ thơ sau đây cũng là một minh chứng cho điều đó:
      “Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
      Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
      Có nhớ dáng người trên độc mộc
      Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”
Bốn câu thơ dựng tả một bức tranh tâm cảnh thơ mộng lại phảng phất buồn man mác. Bằng ngữ điệu hỏi để mà gợi nhắc, gợi nhớ, Quang Dũng đã tái hiện một nét cảnh Tây Bắc và một cõi lòng đoàn quân Tây Tiến.
Câu thơ mở đầu có thời gian và không gian xác định “Người đi Châu Mộc chiều sương ấy”. Châu Mộc cũng như mười một từ chỉ địa danh khác trong bài đều nhằm gợi tả cái xa vắng, cái heo hút hoang lương, lại thêm chiều sương ấy nữa nên càng mơ hồ, bảng lảng. Chữ “Chiều sương” nghe dìu dịu như hơi sương giăng kín đâu đây. Một cái lạnh sẽ sàng, e ấp. Chiều sương bản khói mưa xa khơi trở thành một mô típ quen thuộc của các bài thơ khi nói về vùng rừng núi:
      “Nhớ từng bản khói cùng sương”
                                                             (Việt Bắc – Tố Hữu)
      “Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ”
                                                               (Chế Lan Viên)
Câu thơ thứ hai là một mới lạ: “Có thấy hồn lau nẻo bến bờ”. “Hồn lau” hay chính là hồn người gửi gắm trong cảnh. Giọng thơ nhè nhẹ thấm sâu. Cõi lòng người ở đây ẩn dưới chữ “hồn”. Đó phải chăng là nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương, mà cũng có thể là một biến tấu của “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”. Chất lãng mạn, tâm hồn hào hoa của nghệ sĩ Quang Dũng lại trỗi dậy, lại mang máng khó lòng định vị. “Có thấy” rồi lại “có nhớ”.
      “Có nhớ dáng người trên độc mộc”
Một dáng người khỏe khoắn, tài tình trên thuyền độc mộc. Đây là hình ảnh của những người lao động quen thuộc miền núi Tây Bắc. Dáng người trên độc mộc gợi nhớ hình ảnh “Nhớ cô em gái hái măng một mình”. Cảnh có người vì thế trở nên hài hòa, ấm áp mà sinh động hẳn lên. Chỉ dáng người ở câu này với chữ “hồn” ở câu trên tạo nên một giai điệu tâm tình luyến láy.
Câu kết đoạn thơ là một đoạn thơ là một câu thơ tài hoa. Ở đây, cảm hứng lãng mạn đã chạm tới mức hạng cuối cùng. Cảm hứng ấy nâng vị thế của hình ảnh dáng người trên độc mộc:
      “Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”
“Nước lũ” là cái dữ dội, là một nỗi khổ ải, đọa đày của thiên nhiên. Nhưng “nước lũ hoa đong đưa” thì lại là một hình ảnh mềm mại đến tuyệt đẹp. Chữ “đong đưa” như kéo dài, ngân xa bởi cách láy âm “đ”. Sau hai thanh trắc “nước lũ” là ba thanh bằng “hoa đong đưa” như là một sự giảm xuống, lặng đi rồi mênh mang dần. Nước lũ vì thế sinh động và kì diệu hơn trong con mắt nhà thơ, trong lòng người Tây Tiến.

Bốn câu thơ là một nét chấm phá tài tình của Quang Dũng. Nó có không gian, thời gian, có hồn người xuyên qua cảnh. Hai đặc điểm ấy tạo nên một chất dư ba không ngớt trong tác phẩm và trong tâm hồn người đọc.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét