15 tháng 8 2015

Giá trị nhân đạo sâu sắc của truyện ngắn Vợ nhặt


Câu 2.1:  Anh, chị hãy phân tích giá trị nhân đạo sâu sắc của truyện ngắn Vợ nhặt (Kim Lân).                       
                                                            Bài làm
Sáng tạo nghệ thuật là sản phẩm tinh thần riêng của cá nhân người nghệ sĩ. Có những tác phẩm đọc xong người ta quên ngay, đến khi cầm lại mới ngỡ là mình đã đọc rồi. Cũng có những tác phẩm vừa mới ra đời được đón chào rầm rộ, sau đó người đọc lãng quên nhanh chóng. Bên cạnh đó vẫn ngời lên những tác phẩm nghệ thuật đích thực, tựa như dòng sông chảy qua tâm hồn ta để lại những ấn tượng khắc chạm trong tâm khảm. “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân là một tác phẩm văn học như thế. Làm nên giá trị to lớn đó có nhiều lí do. Song một khía cạnh rất quan trọng đó là giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩm. Nó bắt nguồn từ tấm lòng luôn biết yêu thương, trân trọng giá trị của con người ngay trong những hoàn cảnh khó khăn nhất.
Đọc tác phẩm “Vợ nhặt”, tôi thường nhớ đến câu nói của Gorki “Con người! Hai tiếng ấy vang lên kiêu hãnh và tự hào xiết bao”. Phải chăng khi viết tác phẩm này Kim Lân, một nhà văn chuyên viết về đề tài nông thôn, một người con đẻ của đất đai, đồng ruộng- đang muốn nâng cao giá trị con người lên một tầm cao mới mẻ hơn. "Vợ nhặt" được viết không lâu khi Cách mạng tháng Tám thành công. Nó có tiền thân từ truyện ngắn “Con chó xấu xí” trong tiểu thuyết “Xóm ngụ cư” trước Cách mạng, viết về nạn đói khủng khiếp năm 1945 đã cướp đi bao sinh mạng con người Việt Nam. Nhưng cái phần cốt lõi của tác phẩm có lẽ không chỉ nói đến cái đói và cái xấu xí, thô nhám của con người. Cao hơn nữa là giá trị nhân đạo tuyệt vời. Không chỉ là nhân đạo yêu thương, bênh vực quyền sống để đi vào bế tắc, không lối thoát như văn học hiện thực, “Vợ nhặt”của Kim Lân đã vượt qua những bờ cõi và giới hạn để trờ thành giá trị nhân đạo Cách mạng. Tố cáo về tội ác của bọn thực dân, phát xít là đòn bẩy để cái nhân đạo có cơ sở vững chắc hơn. Tiếp cận với tác phẩm, ta bắt gặp Tràng, bà cụ Tứ, người vợ của Tràng, biết bao khuôn mặt u tối, nhăm nhúm, méo mó vì cái đói đã tràn đến với sức hủy diệt đáng sợ. Bao trùm lên toàn bộ tác phẩm là sự thiếu thốn, khó khăn về vật chất. Cuộc sống con người ở mức tối thiểu cũng không có được.
Cái đói đã được khắc họa đậm nét, “tràn đến tự lúc nào”. Sự sống của những con người xóm ngụ cư (trong đó có Tràng- nhân vật chính) đang ở mấp mé bờ vực thẳm. Cõi dương lúc nào cũng lởn vởn hơi hướng của cõi âm, tất cả đầy ám khí của cái chết. Giá trị nhân đạo sâu sắc được thể hiện khi Kim Lân đi sâu vào nhân vật Tràng. Quả đúng là trong cái túng đói quay quắt, con người ta vẫn hi vọng, lạc quan bởi lẽ “sự sống chẳng bao giờ là chản nản”. Giữa nạn đói khủng khiếp, Tràng lại là một kẻ xấu xí, một nhân dạng được hóa công gọt đẽo khá sơ sài. Tràng dường như là sự tập trung những cái thô kệch, xấu xí, khác xa những cái chải chuốt của xã hội không văn minh, “hai con mắt nhỏ tí”, “cái lưng to như lưng gấu”, chưa kể cái tính của Tràng đâu có được khôn ngoan như người ta và đặc biệt là cái tật hay nói lảm nhảm, tiếng cười hềnh hệch, chưa kể Tràng lại là dân ngụ cư- một thứ cỏ rác ỏ hương thôn thời bây giờ. Bản thân đã vậy, nay đói khát làm cho hắn khổ hơn. Dựng lên một nhân vật như Tràng có lẽ dụng ý của Kim Lân không phải đưa ra để làm trò, lòng yêu thương cảm thông của nhà văn đã đưa đển sáng tạo bất ngờ. Tràng có vợ. Có lẽ nhiều người sẽ ngạc nhiên lắm giữa thời buổi đói kém, thân mình còn chẳng lo được còn nói gì đến chuyện đèo bòng “ốc còn chẳng mang nổi mình ốc”, cái triết lí đó chắc chắn sẽ được đem ra đối chiếu. Hơn nữa với một anh chàng xấu xí, có thể gọi là ế vợ, lại có vợ một cách hiển hách cứ như anh ta đào hoa tốt số lắm. Nhưng không! Đây không phải là một trò đùa nào đó. Người vợ mà Tràng “nhặt” được kia cũng là một số phận chẳng khác gì Tràng trên đường đời đầy khó khăn. Thị cũng vì quá đói, chỉ bốn bát bánh đúc cũng đủ làm thị sáng mắt lên và theo Tràng về nhà thành chồng vợ. Bốn bát bánh đúc thật thảm hại trong ngày đói cũng đủ xe duyên cho một mối tình. Bảo rằng họ có tình yêu nào đó trước hôn nhân thì e chua chát quá. Bởi lẽ đại loại nó thế này “Rích bố cu hử”, “Hà, ngon”. Dựng lên một tình thế quá éo le như thế là nhà văn đã đánh cuộc với cái đói, với số phận và lòng nhân đạo sâu xa đã tiếp cho nhà văn thêm sức mạnh, để ông đủ đức tin vào con người. Cái đói cũng không thể diệt trừ sự sống và trong sự hủy diệt đó sự sống càng trở nên lung linh hơn. Khát vọng về một tình yêu, một mái ấm gia đình có lẽ vẫn tồn tại trong mọi người kể cả Tràng. Nó có sức mạnh hoán cải mạnh mẽ, chẳng thế mà qua tác phẩm, ta thấy cảm giác sung sướng của Tràng khi đi với cô vợ về nhà, một cảm giác vui sướng lâng lâng “tựa hồ như có ai vuốt nhẹ vào sống lưng”. Tôi rất xúc động trước những lời văn này của Kim Lân. Phải có một tài năng thiên bẩm và cao hơn là lòng nhân đạo thì ông mới làm cho người đọc trào nước mắt. Hạnh phúc của con người hóa ra cũng bình dị đến thế. Đoạn văn Kim Lân tả Tràng sau đêm tân hôn thật tuyệt vời, “Trong phút chốc Tràng quên tất cả cánh sống ê chề, tủi nhục”. Đặc biệt tiếng quét sân của vợ hắn sàn sạt nghe sao mà dễ thương đến thế. Đó là âm thanh cuộc sống, hạnh phúc gia đình. Người vợ quét dọn, mẹ dẫy cỏ, Tràng cũng muốn làm cái gì đó để cho căn nhà sáng sủa hơn. Dường như mọi người đều nghĩ thu dọn cho tươm tất thì cuộc sống có lẽ sẽ tốt đẹp hơn. Bữa cơm ngày đói cũng thật thảm hại nhưng ai cũng thấy ngon. Phải chăng mỗi thành viên đang cảm nhận về cuộc sống gia đình, về tương lai theo những cách khác nhau. Song ai cũng hi vọng về cuộc sống sẽ khá giả hơn. Đọc tác phẩm, người đọc rất trân trọng bà cụ Tứ. Người mẹ khốn khổ ấy thật tiêu biểu cho những người mẹ Việt Nam. Niềm tủi thân cho con trai, cho chính bản thân mình và cho cả đứa con gái (cái Đục) xấu số cũng không thể ngăn cản bà chia sẻ hạnh phúc với con trai dẫu biết rằng “chao ôi người ta cưới vợ gả chồng cho con lúc ăn nên làm ra những mong có con đàn cháu đống… còn con mình lúc đói kém mới có được vợ… Lòng người mẹ ấy biết bao là xót xa, đau đớn. Nhưng thương con trai, bà thương cả con dâu. “Chúng mày lấy nhau u cũng mừng lòng”. Song biết có qua nổi cái thì đói này không. Những giọt nước mắt mà bà cố giấu như chứa cả vị đắng cay pha lẫn sung sướng. Nhất là dù hiện tại đáng buồn, bà cụ Tứ vẫn rất lạc quan “Ai giàu ba họ, ai khó ba đời”. Những tính toán của bà cụ thực xúc động. Bà cụ đã chủ động vẽ ra trước mắt các con một tương lai tươi sáng. Không ai ngờ một người mẹ sắp gần đất xa trời rồi mà vẫn giữ một niềm tin sắt đá. Và niềm tin đó đâu phải là không có cơ sở. Hình ảnh đoàn người đi phá kho thóc của Pháp - Nhật và hình ảnh của lá cờ đỏ sao vàng đã đưa tác phẩm ra khỏi phạm trù của văn học hiện thực.  Nhân đạo của Kim Lân không đi vào bế tắc. Nhà văn không đưa ra vấn đề và để đấy, không đặt nhân vật vào hoàn cảnh éo le không lối thoát. Một ánh hồng sáng tươi sẽ có sức giải thoát cuộc đời họ. Đó là Cách mạng. Và do đó giá trị nhân đạo của tác phẩm tỏa sáng một ý nghĩa mới. Nếu như Nam Cao vẫn được mệnh danh là nhà nhân đạo chủ nghĩa, nhà văn tầm nhân loại vì những tác phẩm “Chí Phèo”, “Đời thừa”, thì đọc tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân, ngoài việc ông đã nêu lên bể khổ của cuộc sống con người như truyền thống, ông đã vượt qua giới hạn của thời kì trước.
Đọc tác phẩm “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân, chúng ta cũng cần biết thêm giá trị nhân đạo tuyệt vời trong “Vợ nhặt” không chỉ bởi tài năng thiên bẩm. Kim Lân cùng với người vợ của mình đã từng ăn cháo cám, đã từng sống lay lắt, khổ sở. Có lẽ sẽ không quá nếu ta gọi ông là nhà nhân đạo chủ nghĩa?

Giá trị nhân của tác phẩm “Vợ nhặt” làm người ta nhớ mãi. Nhớ để hiểu rằng sự sống  chẳng bao giờ là chán nản. Để có được tốt đẹp hơn thì cần có một niềm tin. Khao khát hạnh phúc gia đình vốn đã trở nên vĩnh cửu với tất cả mọi người trên trái đất, bất kể họ là ai. Là Tràng rồi Chí Phèo v.v… ngay trong hoàn cảnh bi đát nhất.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét