16 tháng 8 2015

Giá trị nhân đạo sâu sắc của truyện ngắn Vợ nhặt

Câu 2.2: Anh, chị hãy phân tích giá trị nhân đạo sâu sắc của truyện ngắn Vợ nhặt
MỜI BẠN XEM VÀ MUA SÁCH ÔN THI VĂN ĐẠI HỌC TẠI ĐÂY!
                                                              Bài làm
Nạn đói khủng khiếp năm 1945 là một đề tài được nhiều tác giả, nhiều nhà văn quan tâm. Viết về một thời kì mà theo nhà văn Nam Cao là “có lẽ đến năm 2000 con cháu chúng ta phải kể cho cháu nghe để rùng mình”. Ở  thời kì ấy, các nhà văn đã hướng ngòi bút của mình theo nhiều khía cạnh : người thì trực tiếp miêu tả lại hiện thực, người lại miêu tả lại đời sống tinh thần của nhân dân ta thời kì gian khổ đó. Nhà văn Kim Lân cũng đã mượn đề tài nạn đói này để viết lên truyện ngắn “ Vợ Nhặt”. Tác phẩm được đánh giá là “ tác phẩm mang giá trị nhân đạo sâu sắc”.
Nhà văn Kim Lân là một cây bút nổi tiếng trong nền văn học nước nhà. Nhắc đến ông, người ta nhắc đến một nhà văn của đất quê, một nhà văn “ một lòng đi về với đất, với những hồn hậu chất phác nguyên thủy của đời sống nông thôn”. Có lẽ tại yêu thương mảnh đất quê hương, gắn bó với nhân dân, với nông thôn nên Kim Lân đã viết lên “ Vợ Nhặt” với tất cả tấm lòng nhân đạo yêu thương của mình.
“Vợ Nhặt” được xây dựng trên bối cảnh của nạn đói năm 1945, tiền nhân của tác phẩm chính là truyện “Xóm ngụ cư”. Đến năm 1962 tác phẩm chính thức ra đời  với tên gọi “Vợ Nhặt” và được in trong tập truyện ngắn mang tên “Con chó xấu xí”. Tác phẩm đã đi sâu vào trong lòng người đọc bởi nó mang một giá trị nhân đạo sâu sắc. Giá trị nhân đạo là một yếu tố không thể thiếu trong sự thành công của tác phẩm, muốn tác phẩm thành công thì tác phẩm ấy phải mang giá trị nhân đạo và muốn có được giá trị nhân đạo nhà văn phải có một tấm lòng nhân đạo. Giá trị nhân đạo của tác phẩm được biểu hiện ở việc nhà văn hướng ngòi bút  vào việc tố cáo xã hội xấu xa bóp nghẹt và hủy diệt quyền sống của con người. Mặt khác, đó là việc nhà văn lên tiếng bênh vực, bảo vệ con người. Và giá trị nhân đạo của tác phẩm còn là việc nhà văn trân trọng, nâng niu giá trị con người và biểu hiện cuối cùng là việc nhà văn đã mở ra một tương lai tươi sáng  hơn cho cuộc sống của họ. Ngay trong “Vợ nhặt” Kim Lân đã làm được tất cả những điều đó. Chính vì vậy, mà sự thành công của tác phẩm là điều dễ hiểu.
Hiện thực được tác giả phơi bày lấy bối cảnh chung là nạn đói năm 1945 đã giết chết hơn 2 triệu đồng bào ta. Nhưng không gian hẹp hơn được tác giả miêu tả là không gian xóm ngụ cư nghèo trong những ngày đói kém…Không gian ấy hiện lên trong lúc chạng vạng tối với những dãy phố heo hút, xác xơ trong gió, không nhà nào có ánh điện… một không gian hoàn toàn tăm tối thiếu sức sống. Trong không gian ấy, âm thanh người ta có thể nghe thấy chỉ là âm thanh của những con quạ kêu lên từng hồi thê thiết ngoài bãi chợ, là tiếng khóc tỉ tê vẳng lại từ đâu đó. Âm thanh ấy chỉ càng làm cho xóm chợ trở nên càng heo hút , tăm tối, bóng dáng của cái chết như đã dật dờ, ẩn hiện…Và bầu không khí được nhà văn miêu tả cũng là bầu không khí ngột ngạt, không khí vẩn lên mùi ẩm mốc của rác rưởi, mùi gây của xác người chết. Trong bức tranh ấy hình ảnh con người hiện lên cũng thật tội nghiệp đáng thương. Họ là ai…? Là những đứa trẻ mặt buồn rười rượi ngồi trong xó cửa, là những khuôn mặt u tối của những người dân trên đường Tràng về nhà, và đó cũng là hình ảnh anh Tràng những buổi chiều chạng vạng khi đi làm về “Tràng bước nhũng bước mệt mỏi, cái đầu trọc cúi về phía trước, cái áo nâu tàng vắt trên vai, dường như những gánh nặng vật chất đang đè nặng lên đôi vai rộng như lưng gấu của hắn”. Đến lúc này con người hiện lên vẫn là những con người có sự sống, nhưng sự sống của họ cũng đang độ heo úa, sự sống ấy cũng đang bị đe dọa. Họ sống như những bóng ma (“ đi lại dật dờ như những bóng ma”). Trong không gian. Trong âm thanh, trong hình ảnh con người cái chết, cái đói như đang ngự trị. Nhà văn đã miêu tả hình ảnh xóm chợ thật xót xa, đau thương. Hình ảnh người chết được miêu tả mang một sức ám ảnh rất lớn  “không sáng nào những người đi chợ không bắt gặp vài ba cái xác nằm cong queo giữa đường”. Bằng cách sử dụng từ phủ định “ không “ ở ngay đầu câu văn, Kim Lân đã phơi bày một hiện thực vô cùng đau xót, cái chết đã hiện hình một cách rỗ nét và phổ biến, không thể tránh khỏi.
Hoàn cảnh ngày đói được tác giả miêu tả rõ qua số phận nhân vật Tràng và ở hình ảnh người đàn bà vợ nhặt.
Anh cu Tràng là dân xóm ngụ cư, nơi mà chỉ có những người ngoại tỉnh phiêu bạt đến, vì miếng cơm manh áo mà phải sống “tha hương” xa rời quê hương bản quán. Anh Tràng lại chỉ là một người kéo xe bò, nhà nghèo, mẹ già, tính lại đần đù. Khi miêu tả cuộc sống anh Tràng, nhà văn đã miêu tả bằng tất cả sự cảm thông của mình. Cái đói, cái nghèo đã tước đi của anh cu Tràng cả quyền được có gia đình, được sống hạnh phúc, bởi nghèo chẳng đủ tiền lấy vợ. Ngay trong tác phẩm, Kim Lân đã để bà cụ Tứ nói lên  sự thật đau lòng này “có đến nước này người ta mơi lấy con mình mà con mình mới lấy được vợ “. Đúng trong hoàn cảnh đói khát ấy, nhu cầu đặt ra duy nhất là lương thực, là giải thoát khỏi cái đói, anh cu Tràng và cả bà cụ Tứ nữa dù rất muốn Tràng lấy vợ, có được hạn phúc nhưng trước hoàn cảnh thực tế họ buộc phải quên đi để lo miếng cơm manh áo cho cuộc đời mình. Cuộc đời anh Tràng đã bị cái đói, cái khổ làm cho anh Tràng phải quên đi nhu cầu hạnh phúc của mình, nhưng khi miêu tả cuộc đời người đàn bà vợ nhặt ta mới thấy hết được sự hủy hoại mạnh mẽ cuộc sống của con người, mới thấy hết được sự khắc nghiệt của cuộc sống đói khổ. Người đàn bà vợ nhặt trong tác phẩm là người đàn bà không tên hay không có nổi một cái tên, suốt tác phẩm nhà văn chỉ gọi chị ta bằng “chị” , bằng “thị” nhưng cũng không một dòng tên tuổi. Dường như ở đây nhà văn đã bộc lộ một thái độ chua xót đến cực độ, cái đói cái nghèo đã làm cho con người ta trở nên rẻ rúng. Để miêu  tả sự rẻ rúng của số phận con người , Kim Lân đã miêu tả qua việc anh Tràng nhặt được vợ. Người đàn ông vốn tưởng như suốt đời không thể lấy được vợ đã có vợ mà lại có vợ một cách hết sức “oanh liệt”, là “nhặt vợ”. Câu chuyện tưởng như đùa nhưng lại hết sức chua chát ,đau xót. Người đàn bà vợ nhặt sẵn sàng theo không anh Tràng về làm vợ chỉ sau hai lần gặp. Kim Lân miêu tả thị ở chợ là một người đàn bà có cách đối đáp chỏng lỏn, ngoa ngoắt Điêu, người thế mà điêu” cách ăn uống thô tục, thiếu văn minh, thậm chí là vô ý  rồi lấy đũa quệt ngang miệng và nói : “Hà , ngon …” . So với những phẩm chất thông thường của người phụ nữ , thì thị là một người đàn bà vô duyên hết chỗ nói . Song thật đáng thương đó chỉ là người đàn bà trong thời điểm ngày đói , là sản phẩm của nạn đói.
    Sự thật đã được tác giả phơi bày ở đây chính là bức tranh ngày đói đã hủy hoại con người , làm mất đi tất cả những giá trị tối thiểu của cuộc sông thường ngày của con người đó là nhu cầu hạnh phúc, là đạo đức,nhân cách của con người. Sự thật về nạn đối ấy còn được miêu tả qua “bữa cơm ngày đói với một nồi cháo lõng bõng , một ít hoa chuối thái rối, một dúm muối một nồi chè khoán mà thực chất là một nồi chè cám, ăn vào chát xít và nghẹn bứ ở cổ”… Bữa cơm ngày cưới mừng cô dâu chú rể ấy khiến người đọc nghẹn ngào xúc động , rơm rớm nước mắt. Đến đây người đọc nhận thấy sự khắc nghiệt đến tột độ của cuộc sống đói khát.
Nhưng nếu như Kim Lân chỉ dừng lại ở việc miêu tả, tái hiện lại sự thật về đời sống bóp nghẹt mọi quyền sống của con người thì giá trị con người vẫn chỉ dừng lại ở tất cả những gì tầm thường và nhỏ bé ấy. Song chính trong hoàn cảnh cái đói cái khổ ấy, nhà văn đã tìm ra phần tươi đẹp bên trong những số phận nhỏ bé kia. Khi nạn đói đang hoành hành và nhu cầu lớn nhất của con người là miếng ăn, thì Kim Lân vẫn nhận ra vẻ đẹp tâm hồn con người.. Tràng, một thanh niên nghèo khó ấy đã dang tay đón người đàn bà đau khổ về làm vợ. Lúc đầu không phải Tràng không lo sợ, ai chẳng sợ trong khi “mình còn chẳng nuôi nổi mình nữa lại còn đèo bòng”. Nhưng xuất phát từ tình thương, từ khát khao hạnh phúc, Tràng đã chặc lưỡi “chậc, kệ”. Thực chất đó không phải là sự chặc lưỡi làm liều mà nó xuất phát từ chính con người Tràng. Hóa ra không phải trong cái đói, người ta chỉ có nhu cầu ăn, mà người ta còn có nhu cầu được hưởng hạnh phúc và vì thế Tràng đã có vợ.
Chuyện Tràng có vợ là một điều vô cùng bất ngờ, bất ngờ với Tràng, với mẹ Tràng và cả với những người dân xóm ngụ cư. Việc Tràng lấy vợ đã đem tới cuộc sống của mọi người những biến đổi lạ. Nếu như ở phần sự thật đau lòng trước khi Tràng lấy vợ là một người đàn bà “chao chát”, “chỏng lỏn”, xấu xí thì ngay sau sự kiện “nhặt vợ” của Tràng, Kim Lân đã nhìn thấy bản chất tốt đẹp trong người đàn bà ấy. Thị cũng là một người đàn bà, cũng ý tứ phết đấy chứ. Thị bước đi sau Tràng vài bước, cái nón nghiêng che khuất nửa mặt, lúc vào nhà thì ngồi ở mép giường, nói chuyện với mẹ Tràng ngoan ngoãn từ tốn. Hóa ra cái “chao chát”, “chỏng lỏn” trước kia chỉ là một sản phẩm nhất thời, còn về bản chất thì thị là một người đàn bà tốt. Không tốt, không đáng trân trọng sao được, khi người đàn bà cố nén cái thở dài lúc nhìn căn nhà rúm ró của mẹ con Tràng. Người đàn bà ấy theo Tràng về làm vợ với mong muốn được ăn no hơn, sung sướng hơn, nhưng khi về đến nhà chồng, đối diện với cái nghèo khó, thị cũng chẳng bỏ đi trong khi thị hoàn toàn có thể làm thế. Sở dĩ như vậy là vì thị dám chấp nhận hoàn cảnh, vả lại lúc này với thị cái cần chính là một mái ấm. Kim Lân dường như đã dành cho thị một sự ưu ái đặc biệt như phần bù đắp cho những đau khổ kéo dài trong cuộc đời người đàn bà ấy. Việc miêu tả hình ảnh người đàn bà vợ nhặt buổi sáng hôm sau đã hoàn toàn chứng minh thị là một người phụ nữ đảm đang thật sự, chính điều này Tràng cũng nhận ra, thị dậy sớm quét tước nhà cửa gọn gàng, chuẩn bị cơm, nước tinh tươm. Đọc đến đây người đọc mới cảm nhận được hết sự yêu thương trân trọng của nhà văn đối với nhân vật của mình.
Để thể hiện mục đích bênh vực con người, tác giả còn miêu tả thông qua những suy nghĩ, cử chỉ của bà cụ Tứ. Theo lẽ thông thường, theo phép tắc đạo cũ của xã hội không mấy bà mẹ chồng nào lại có thể chấp nhận một người con dâu như người đàn bà vợ nhặt, nhưng bà cũng “mừng lòng” đón con dâu. Đó là biểu hiện của sự thương con, thương dâu.
Người đọc hoàn toàn có thể cảm thấy có một luồng sinh khí ấm áp, hạnh phúc đang thổi vào tâm hồn con người, trong cái đói, cái  khó giá trị con người vẫn không hề bị mất đi, bị xóa nhòa mà chỉ bị che lấp, khi có điều kiện nó lại bừng sáng.
Trong “Vợ nhặt” Kim Lân cũng đã xuất phát từ tình thương yêu, trân trọng con người mà đã mở ra cho họ một tương lai tươi sáng chủ yếu thông qua sự động viên an ủi của bà cụ Tứ. Bà luôn động viên an ủi các con để các con yên tâm “không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời, may ra thì trời cho đời con cháu chúng mày…”. Lời nói của bà cụ Tứ chính là niềm hi vọng của các nhân vật trong tác phẩm, họ hi vọng một tương lai tốt đẹp hơn, tươi sáng hơn cho cuộc đời họ và cuộc đời con cháu họ. Mọi hi vọng vẫn chưa phải đã bị dập tắt.
Ở cuối tác phẩm, Kim Lân đã miêu tả trong đầu Tràng đang hiện lên cảnh đám người đói và lá cờ của Việt Minh. Chi tiết này là một chi tiết mở cho một kết thúc của tác phẩm. Dường như nó sẽ dẫn đến việc Tràng cùng đoàn người đói kia phá kho thóc, hứa hẹn một cuộc sống mới cho gia đình Tràng, một cuộc sống ấm no hạnh phúc. Có chi tiết này khiến “Vợ nhặt” không còn là một tác phẩm mang tính hiện thực nhân đạo, mà nó còn mang cả tính cách mạng.

Sự thành công của “Vợ nhặt” chính là kết quả của một cây viết tài năng, một cây bút nồng nàn với đời, biết yêu thương con người và trân trọng giá trị con người. Với sự thành công của tác phẩm, một lần nữa giá trị nhân đạo được tiếp tục đề cao trong mỗi tác phẩm và cái “Tâm” của người viết càng khẳng định được giá trị của mình.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét