16 tháng 8 2015

Giá trị nhân đạo sâu sắc của truyện ngắn Vợ nhặt

Câu 2.3: Anh, chị hãy phân tích giá trị nhân đạo sâu sắc của truyện ngắn Vợ nhặt
                                                              Bài làm
Văn học bất cứ thời đại nào cũng muốn tồn tại và đứng vững trước thử thách khắc nghiệt của thời gian, thì đều phải bắt nguồn từ cuộc sống và phục vụ cho cuộc sống. Văn học nước ta thời kì 1930 – 1945 còn để lại nhiều giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo mà lớp lớp các nhà văn tạo nên chất liệu cuộc sống đầy biến động. Truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân chính là một tác phẩm trong giai đoạn văn học ấy mang giá trị nhân đạo sâu sắc từ bối cảnh của một nỗi đau dân tộc – nạn dói khủng khiếp năm Ất Dậu. Giá trị nhân đạo ấy qua ngòi bút tài hoa, kĩ lưỡng cả đầy tâm huyết của nhà văn Kim Lân được hiện ra thật xúc động và sâu sắc.
   Tấm lòng nhân đạo của nhà văn thể hiện trong tác phẩm của mình không chỉ toát lên từ sự cảm thông của nhà văn với nỗi đau khổ của những con người trong cơn khốn khổ mà còn hiện ra ở tấm lòng, phát hiện những khát khao cao đẹp, những tình cảm đáng quý giữa con người với con người.
   Thực ra khi viết hoàn chỉnh truyện ngắn “Vợ nhặt”, thì Kim Lân đã trải qua nạn đói một thời gian. Tác phẩm được viết ra từ sự rút gọn tiểu thuyết “Xóm ngụ cư” và hơn thế còn được nhà văn sửa chữa kĩ lưỡng. Bởi thế đó là tác phẩm được chọn lọc từ sự chiêm nghiệm của bản thân, sự nghiền ngẫm suy nghĩ trong một quá trình. Do vậy, giá trị của tác phẩm càng được nâng cao bởi những gì sâu sắc mà nó chứa đựng.
   Truyện được viết trong bối cảnh là một thảm họa của dân tộc. Với tư cách là một con người đã từng trải qua nỗi đau ấy, Kim Lân đã làm hiện lên nỗi đau của bao kiếp người khổn khổ khác bằng sự cảm thông sâu sắc. Dựng lên một bối cảnh rất thực, thực đến phũ phàng bằng những nét vẽ ghê rợn, Kim Lân đã ghi ấn tượng sâu sắc trong người đọc nhiều thế hệ tiếp theo. Không khí của nạn đói bao trùm khắp nơi từ con đường dẫn vào xóm chợ khẳng khiu vô hồn và cũng dường như kiệt sức vì đói, rồi mùi vẩn lên trong không khí là mùi gây của rác ẩm và xác người, mùi đốt đống rấm của những nhà có người chết. Âm thanh rùng rợn bao trùm cả thiên truyện là tiếng tỉ tê hờ khóc thật ảm đạm và thật ghê rợn. Tác giả đã đẩy cái ghê rợn ấy lên tới tột cùng khi mà để cho những hình ảnh về người sống nằm sát ngay hình ảnh về những cái thây nằm còng queo ngoài lều chợ, hai bên đường. Dường như ở nơi đây tử khí đang lan tràn khắp nơi, ranh rới giữa cái chết và sự sống thật mong manh. Sự sống luôn mấp mé bên bờ cái chết. Bởi thế, tác giả đã hai lần ví người sống mà lại “xanh xám như những bóng ma”.
Bối cảnh năm đói được Kim Lân làm hiện ra với tất cả cái ghê rợn tột cùng của nó. Những bối cảnh ấy lại được dựng lên bằng một ngòi bút tài năng không chỉ là một bản cáo trạng về tội ác của xã hội thực dân nửa phong kiến tàn ác, mà còn là nơi để tác giả gửi gắm bao cảm thông với số phận con người. Và hơn hết, điều này thực sự quan trọng, đó chính là từ bối cảnh nghiệt ngã ấy, tác giả đã phát hiện và viết nên bài ca không ngã lòng của những con người tưởng chừng như đều tuyệt vọng.
Điều đặc sắc nhất trong nghệ thuật viết truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân chính là tình huống truyện đặc sắc. Tình huống truyện thể hiện trước tiên ở cách đặt nhan đề của tác phẩm “nhặt”, theo như chính Kim Lân giải thích đó là một hành động nhặt nhạnh, vu vơ một cái gì ít giá trị. Đối tượng của hành động nhặt thường là một đồ vật. Vậy mà “Vợ” lại được đặt vào vị trí một đồ vật ít giá trị đó. Tạo nên cái mâu thuẫn đó, tác giải đã thể hiện nỗi xót thương cho cái giá trị con người. Chỉ trong một bối cảnh đen tối dường kia thì con người mới trở nên mỏng manh và đáng thương như vậy. từ nhan đề của tác phẩm, ta không hề nhận thấy một sự mỉa mai hài hước nào của tác giả mà lại toát lên ở đó một nỗi niềm thương xót cho kiếp phận con người trong nạn đói, sự trớ trêu của số phận. Chính là “Vợ nhặt” không phải là “Nhặt vợ” nên mới càng xót xa. “ Nhặt vợ” chỉ là một hành động nhất thời, còn “Vợ nhặt” thì lại trở thành một loại vợ chỉ tồn tại trong cái hoàn cảnh khốn cùng ấy.
Tình huống truyện còn thể hiện qua việc nhặt vợ kia trong một bối cảnh xót xa thê thảm. Thường thì người ta lấy vợ lấy chồng trong gia cảnh khá giả. Người xưa có câu:
“Tậu trâu, lấy vợ, làm nhà
  Trong ba việc ấy thật là khó thay”
Vậy mà ở đây, Tràng – nhân vật của truyện đã lấy vợ vào cái bối cảnh khổ đau và thê thảm. Việc lấy vợ này cũng đâu có giống lẽ thường, không phải là lấy vợ mà nhặt vợ. Nhưng dựng lên tình huống nhặt vợ như vậy, Kim Lân đã thể hiện được biết bao điều cao đẹp trong tấm lòng của ông dành cho con người.
   Tấm lòng nhân đạo của Kim Lân đã giúp biến những việc nhìn bề ngoài tưởng chỉ là xót xa, trớ trêu thành khát khao cao đẹp của những con người đau khổ.
   Tràng – một nhân vật vừa xấu trai, lại nghèo hèn, việc làm bấp bênh, có chút không bình thường. Cái dáng ngật ngưỡng ngay từ đầu tác phẩm đã toát lên tất cả sự đáng thương của con người. Với con người tưởng chừng việc kiếm tìm hạnh phúc chỉ là vô vọng thì Kim Lân đã dựng lên tình huống nhặt vợ rất đúng nghĩa của từ ấy đối với Tràng. Bởi lẽ nó rất dễ dàng, buông ra vài từ vu vơ, và đãi một người đàn bà bốn bát bánh đúc, sau một tiếng “chậc” đầy liều lĩnh, Tràng đã có vợ, y như một anh chàng tốt số đào hoa. Nhưng thực ra sâu xa hơn, Kim Lân đã nói lên cái số kiếp nhỏ bé của một con người như Tràng, vì chỉ có cái hoàn cảnh khốn cùng, Tràng mới lấy được vợ, mới có vợ. Đối tượng của động từ “ nhặt” kia lại là một phụ nữ nghèo khổ. Cả một con số không to tướng bao trùm lên chị: không gia đình, không tên tuổi, không tiền, không sắc. Người đàn bà gày gò xấu xí ấy lại còn “chao chát” “chỏng lỏn”. Chịu theo không về làm vợ người đàn ông xa lạ, điều ấy làm sao có thể giải thích? Đó trước tiên chỉ có thể là sự chạy trốn cái đói, nhưng sâu xa hơn, Kim Lân đã phát hiện khát khao rất người, rất cao đẹp ở hai con người ấy. Đó là hi vọng, khát khao có một cuộc sống gia đình. Người phụ nữ ấy dù có đanh đá, chao chát, chỏng lỏn đi chăng nữa, hoàn toàn không phải vì xấu xa, mà chỉ vì đói. Tấm lòng nhân đạo cao cả của Kim Lâm đã phát hiện ra điều này để vượt qua sự khinh bỉ đến bến bờ của cảm thông và yêu thương.
   Hai con người đến với nhau bởi khát khao hạnh phúc gia đình. Đó là một khát khao đáng được trân trọng.
   Cuộc hôn nhân này được nhìn một cách khá toàn diện từ đôi mắt từng trải và nhân hậu của bà cụ Tứ - mẹ Tràng. Sau bao nỗi niềm buồn vui lẫn lộn, lo lắng cho các con trong cơn bĩ cực thì tất cả còn lại là quan niệm “người sống hơn đống của” của dân tộc Việt Nam. Bà đã nhen lên niềm hi vọng cho con cháu bằng nỗi lòng bao dung.
   Những con người đó đã đến với nhau để làm nên một gia đình. Khát khao sống trong tình thương luôn là khát khao bất diệt của con người tạo cho con người sức mạnh để bước qua ranh giới đói khát và cái chết. Thực sự là trên đời này đã không có con đường cùng.
   Trong buổi sáng, sau hôn lễ đặc biệt ấy một khung cảnh rạng rỡ đến với mỗi con người, dù xung quanh còn rập rờn bóng dáng của cái chết. Điều quan trọng hơn là sự thay đổi trong tâm hồn của mỗi con người. Họ đã được sống đúng là một con người.
Kim Lân đã phát hiện ra khao khát của những con người cùng khốn, trân trọng và làm cho nó trở nên thiêng liêng. Hình ảnh một gia đình, tuy vẫn phải chịu cái đắng chát của miếng cám, nhưng bù lại là hình ảnh của lá cờ sao vàng đã kịp gieo mầm hi vọng cho những cảnh đời khốn cùng kia.
   “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Cả cái tài và cái tâm đã làm nên một tác phẩm có giá trị của Kim Lân.

   Nhà văn Nga Nicolai trong “Thép đã tôi thế đấy” đã viết: “Hãy biết sống cả khi cuộc đời đã trở nên không thể sống được nữa”.  Tấm lòng nhân đạo của Kim Lân đã cảm thông và trân trọng những khát khao sống cháy bỏng của con người để thắp lên ngọn nến của tình yêu thương giữa bóng tối bao trùm của số phận và cuộc sống khắc nghiệt. Tình cảm nhân đạo lớn lao của nhà văn đã làm nên giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩm. Chính nhờ giá trị nhân đạo này mà tác phẩm sẽ còn trường tồn cùng sự nghiệp văn học nước nhà.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét