01 tháng 8 2015

Phân tích chất sử thi hùng tráng, trang nghiêm trong tác phẩm Rừng xà nu

Đề 4: Phân tích chất sử thi hùng tráng, trang nghiêm trong tác phẩm “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành.
                                                  
ĐÁP ÁN- HƯỚNG DẪN LÀM BÀI

I. Giới thiệu tác giả, tác phẩm
            1. Trong nền văn học cách mạng Việt Nam hiện đại, nếu như Tô Hoài là nhà văn có công khai sơn phá thạch đề tài Tây Bắc thì Nguyên Ngọc (sau lấy bút danh là Nguyễn Trung Thành) được xem là nhà văn đi tiên phong về đề tài Tây Nguyên. Đây là sở trường, là niềm say mê của nhà văn và đã có những đóng góp tích cực cho văn học Việt Nam về một đề tài hấp dẫn, có ý nghĩa xã hội và thẩm mĩ sâu sắc.
2. Từ những năm kháng chiến chống Pháp, Nguyên Ngọc đã có tác phẩm “Đất nước đứng lên” với nhân vật chính là anh hùng Núp làm say mê hàng triệu độc giả. Tác phẩm được giải nhất về tiểu thuyết, giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam 1954- 1955. Vào cuộc kháng chiến chống Mĩ, do gắn bó mật thiết với chiến trường Tây Nguyên, gần gũi, hiểu biết sâu sắc cuộc sống và tinh thần bất khuất, yêu tự do, gắn bó với cách mạng của nhân dân các dân tộc thiểu số trên mảnh đất này, ông đã sáng tác nên một thiên truyện nổi tiếng “Rừng xà nu”. Truyện viết vào mùa hè năm 1965, rút từ tập “Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc”. Truyện được giải thưởng văn nghệ Nguyễn Đình Chiểu  1965. “Rừng xà nu” rất giàu chất sử thi hùng tráng, trang nghiêm.
II. Thế nào là tác phẩm sử thi và những biểu hiện của nó.
1. Giải thích khái niệm:
Theo từ điển thuật ngữ văn học thì sử thi là  “Thơ ca lấy lịch sử làm đề tài, chép sự tích nhân vật và truyền thuyết lịch sử”. Còn trong lí luận văn học “Sử thi là một thể loại tự sự miêu tả các sự kiện quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với đời sống tinh thần và vận mệnh của dân tộc. Nó chủ yếu biểu hiện ý thức cộng đồng của nhân dân, dân tộc đối với quá khứ vẻ vang của chính mình”.
Với quan niệm nói trên thì “Rừng xà nu” không phải là tác phẩm sử thi mà là “bản anh hùng ca mang đậm tính sử thi và cảm hứng lãng mạn về cuộc chiến đấu của nhân dân Tây Nguyên” (Lời tiểu dẫn sách giáo khoa).
2. Những biểu hiện tính sử thi trong “Rừng xà nu
a. Về đề tài, chủ đề:
Tính sử thi trước hết được thể hiện ở đề tài, chủ đề. Truyện có đề tài về lịch sử của làng Xôman và nói rộng ra là của nhân dân Tây Nguyên trong cuộc đấu tranh cách mạng chống tên đế quốc mạnh nhất để bảo vệ nền độc lập dân tộc. Đây là một sự kiện trọng đại, mang tầm vóc thời đại. Qua tác phẩm, tác giả muốn nêu bật sức mạnh quật khởi, tinh thần và ý chí mãnh liệt không gì lay chuyển nổi của buôn làng, của một dân tộc quyết lấy máu mình viết lên một chân lí lớn: “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”. Nghĩa là vũ trang chiến đấu là con đường tất yếu để giải phóng nhân dân.
b. Nhân vật
Dân làng Xôman trong “Rừng xà nu” là một tập thể mang những phẩm chất tiêu biểu cho cộng đồng, sống chết vì buôn làng, vì dân tộc. Đó là một tập thể anh hùng tiêu biểu cho tinh thần yêu nước, khát vọng tự do, tinh thần đoàn kết, bất khuất, hiên ngang, sức sống mãnh liệt.
Rừng xà nu” được khai thác trực tiếp từ hiện thực đấu tranh của cách mạng miền Nam trong thời kì đồng khởi và tiếp nối ở chặng đường phát triển sau của cách mạng.
Các nhân vật trong “Rừng xà nu” được cấu tạo theo nhiều lớp, nhiều thế hệ. Các thế hệ này được hình tượng hoá bằng những thế hệ xà nu khác nhau trong rừng xà nu bạt ngàn tít tắp tận cuối chân trời. Thế hệ già làng (tiêu biểu là cụ Mết); thế hệ thanh niên tiêu biểu là Tnú, Mai, Dít. Truyện còn hé mở cho ta thấy thế hệ thứ ba, thế hệ của những bé Heng để hoàn thiện bức tranh về chiến tranh nhân dân, “lớp cha trước, lớp con sau” nối tiếp nhau tạo nên một sức mạnh vô địch.
Nét chung nhất của các nhân vật này là: Phẩm chất anh hùng, rất kì vĩ, mạnh mẽ. Họ đều là những con người yêu buôn làng, yêu nước, yêu dân bất khuất, kiên trung, thuỷ chung với cách mạng, giàu khát vọng tự do, giải phóng, giàu sức sống.
- Yêu buôn làng, yêu nước, yêu dân sâu nặng và căm thù giặc sâu sắc, cháy bỏng.
- Quyết tâm đứng lên đánh giặc, bất chấp sự khủng bố dã man của kẻ thù.
- Kiên cường, bất khuất, dũng cảm, táo bạo tạo nên khí thế đồng khởi chống Mĩ.
   Điều đặc biệt là tuy cùng mang phẩm chất anh hùng, nhưng mỗi người do tuổi tác, giới tính, cương vị khác nhau mà có những cách biểu hiện khác nhau làm nên vẻ đẹp, đặc điểm riêng rất đa dạng, sinh động và hấp dẫn.
- Cụ Mết: Cụ Mết đã từng tham gia kháng chiến chống Pháp. Theo tác giả, cụ cùng hoạt động một thời với anh hùng Núp và cả hai đều rất nổi tiếng ở cả hai vùng khác nhau của Tây Nguyên. Núp được phong tặng anh hùng. Cụ Mết, con người của hai thế hệ lại tiếp tục hướng dẫn, chỉ huy con cháu tham gia vào cuộc đấu tranh chống Mĩ- Diệm. Cụ là một già làng sừng sững uy nghi như cây đại thụ. Cụ luôn là người đứng đầu có tác phong trang trọng, đàng hoàng, có phong thái đĩnh đạc và uy tín lớn trong làng. Cụ Mết trở thành người cha tinh thần, người truyền ngọn lửa khát vọng tự do, giải phóng và trở thành linh hồn của phong trào đồng khởi của dân làng Xôman.
   + Cụ Mết xuất hiện muộn khiến cho Tnú nóng ruột chờ đợi. Con người này có cái hình dáng bên ngoài rất đặc sắc “ông cụ vẫn quắc thước như xưa, râu bây giờ đã dài tới ngực và vẫn đen bóng, mắt sáng và xếch ngược … ông ở trần ngực căng như một cây xà nu lớn. Tay rắn chắc như hai gọng kìm, giọng nói trầm vang như cồng chiêng”. Cách nói của cụ không bao giờ khen “Tốt”. Những khi vừa ý nhất cụ chỉ nói “Được!”. Mệnh lệnh của cụ phát ra đơn giản chắc nịch: “Thế là bắt đầu rồi! Đốt lửa lên!”.
   + Tấm lòng của cụ đối với Tnú, với dân làng và với cách mạng bao la như núi ngàn. Nghĩa tình của cụ đối với nhân dân, đất nước như nước nguồn Tây Nguyên không bao giờ khô cạn.
   + Cụ Mết chỉ huy dân làng xông lên giết sạch bọn ác ôn trong nhà rông, đốt lên ngọn lửa đồng khở rực sáng với chân lí thật giản dị mà sâu xa:“Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”.
   + Cụ Mết còn là con người của niềm tin, người tổ chức, tập hợp đoàn kết dân làng chống giặc.
   Tóm lại, cụ Mết là người tiêu biểu, kết tinh cho tính cách quật cường, bất khuất của các dân tộc Tây Nguyên nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung: Yêu nước thiết tha, căm thù giặc cháy bỏng, bất khuất, kiên cường, thuỷ chung son sắt, giàu sức sống “ưỡn tấm ngực lớn của mình ra, che chở cho làng”.
   - Tiếp đến là thế hệ của Tnú, Mai, Dít (Tnú quyết liệt, mạnh mẽ, trung thực, ngay thẳng, căm thù như lửa bốc cháy ngùn ngụt trả thù dứt khoát, giàu dũng khí, giàu sức sống… Tnú trở thành niềm tự hào, kiêu hãnh của tập thể người dân Tây Nguyên).
   + Dít là một cô gái trẻ, giàu nghị lực, có bản lĩnh, trưởng thành trong đấu tranh gian khổ và trở thành người lãnh đạo cao nhất của dân làng Xôman: Bí thư chi bộ, chính trị viên xã đội.
   + Nét tính cách nổi bật của Dít: một cô gái có đôi mắt mở to, trong suốt, tính tình lặng lẽ, kín đáo nhưng rất gan dạ (giặc bắn để uy hiếp tinh thần, áo quần rách tả tơi nhưng vẫn bình thản như không), kiên quyết, nguyên tắc (kiểm tra giấy của Tnú rất kĩ, mặc dù có quan hệ thân tình), song Dít lại là một cô gái rất giàu tình cảm (bùi ngùi, lưu luyến khi Tnú phải đi).
   c. Bức tranh thiên nhiên được miêu tả thật hùng vĩ, hoành tráng, giàu màu sắc tạo hình như khắc, như chạm, tạo thành hình, thành khối có màu sắc, mùi vị. Đặc biệt đó là hình tượng cây xà nu mang đậm màu sắc sử thi. Nó được miêu tả từ nhiều góc độ, được lặp đi lặp lại nhiều lần, mang ý nghĩa tượng trưng cho phẩm chất, vẻ đẹp con người Tây Nguyên. Những cảnh “suốt đêm nghe cả rừng Xôman ào ào rung động. Và lửa cháy khắp rừng…” và đặc biệt “những đồi xà nu tiếp nối tới chân trời” mở đầu và kết thúc  truyện đã làm nền cho diễn biến câu chuyện bi hùng của Tnú và làng Xôman thật giàu ý nghĩa thẩm mĩ và nghệ thuật.
   d. Ngôn ngữ của thiên truyện  “Rừng xà nu” đã được Nguyễn Trung Thành viết với một giọng say mê, trang trọng tạo nên chất thơ dào dạt, hùng tráng. Chuyện được kể bên bếp lửa, cách kể trang nghiêm xúc động như muốn nhắc nhở con cháu nhớ kĩ những trang sử đẫm máu và nước mắt của cả cộng đồng “Người già chưa quên, người chết quên rồi thì để cái nhớ lại cho người sống… hãy lắng mà nghe, mà nhớ… sau này tao chết rồi, chúng mày phải kể lại cho con cháu”.
   - Câu chuyện của Tnú mà cụ Mết kể cho dân làng nghe là câu chuyện xảy ra chưa lâu, nhưng vẫn được kể như câu chuyện lịch sử, với giọng điệu và ngôn ngữ trang trọng của sử thi.


0 nhận xét:

Đăng nhận xét