01 tháng 8 2015

Phân tích hình ảnh người mẹ

Đề 3: Phân tích hình ảnh người mẹ qua 2 đoạn thơ sau trong bài thơ “Bên kia sông Đuống” của Hoàng Cầm:
“Bên kia sông Đuống
Mẹ già nua còm cõi gánh hàng rong
Dăm miếng cau khô
Mấy lọ phẩm hồng
Vài thếp giấy đầm hoen sương sớm
Chợt lũ quỷ mắt xanh trừng trợn
Khua giày đinh đạp gãy quán gày teo
Xì xồ cướp bóc
Tan phiên chợ nghèo
Lá đa lác đác trước lều
Vài ba vết máu loang chiều mùa đông
Chưa bán được một đồng
Mẹ lại quảy gánh hàng rong
Bước cao thấp bên bờ tre hun hút
Có con cò trắng bay vùn vụt
Lướt ngang dòng sông Đuống về đâu
Mẹ ta lòng đói dạ sầu
Đường trơn mưa lạnh mái đầu bạc phơ
… “Đêm buông xuống dòng sông Đuống
- Con là ai? - Con ở đâu về?
Hé một cánh liếp
- Con vào đây bốn phía tường che
Lửa đèn leo lét soi tình mẹ
Khuôn mặt bừng lên như dựng trăng
Ngậm ngùi tóc trắng đang thầm kể
Những chuyện muôn đời không nói năng”
(Văn học 12, tập I, trang 82)

ĐÁP ÁN - HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
I. Giới thiệu vài nét về tác giả, bài thơ, vị trí đoạn trích (xem các đề trên)
II. Hình ảnh người mẹ
- Viết về người mẹ là viết về những gì thiêng liêng nhất trong đáy sâu trái tim của mỗi con người và cũng là viết về chính quê hương đất nước. “Vì mẹ là hiện thân trọn vẹn nhất, sinh động nhất của quê hương” (Hoàng Cầm). Trong bài thơ này, có hai hình ảnh người mẹ: một người mẹ xuất hiện với tư cách là nạn nhân của chiến tranh xâm lược, một người mẹ bền bỉ bất khuất – bà mẹ chiến sĩ sẵn sàng lấy thân mình che chở cho những đứa con Cách mạng.
A. Hình ảnh người mẹ ở đoạn thơ thứ nhất “Bên kia… mái đầu bạc phơ”.
1. “Bên kia sông Đuống”, quê hương Kinh Bắc với truyền thống văn hoá nghìn đời mà tiêu biểu là tranh Đông Hồ toát lên “niềm hoan hỉ, vui vẻ, hóm hỉnh” của cuộc sống sum vầy, hạnh phúc và những con người của “mẫu văn hoá” ấy đáng yêu là thế. Nhưng tất cả “bây giờ tan tác về đâu?”. Và giữa khung cảnh tan tác của loạn lạc, giặc giã, chiến tranh nạn nhân tội nghiệp, đáng thương nhất là bà mẹ già, đặc biệt là những người mẹ nghèo.
2. Hình ảnh người mẹ dưới ngòi bút của Hoàng Cầm hiện lên thật thương, thật tội. Mẹ là hình ảnh có ý nghĩa biểu trưng cho những người lao động lam lũ, cần cù, vất vả đã chịu biết bao lao khổ dưới gánh nặng cuộc đời một nắng hai sương, nay cộng thêm loạn lạc chiến tranh mà vẫn phải “Đòn gánh tre chín rạn hai vai” để kiếm sống thì đau khổ, đáng thương biết chừng nào! Chú ý phân tích chân dung số phận người mẹ được khắc hoạ bằng những từ ngữ nghệ thuật độc đáo, gợi cảm: “già nua”, “còm cõi”, “gánh hàng rong”. Bằng biện pháp nghệ thuật liệt kê, những từ chỉ số lượng số ít, phiếm chỉ “dăm”, “mấy”, “vài” đi liền với những hình ảnh tiêu biểu cho sự nhỏ nhoi, ít giá trị: “miếng cau khô”, “lọ phẩm hồng”, “thếp giấy”… Đúng là tài sản của mẹ cũng “còm cõi” như cuộc đời “còm cõi” vì già nua, đói nghèo của mẹ.
Mạch cảm xúc dâng trào từ thông cảm chuyển thành niềm uất hận, sự căm thù, đau đớn tột cùng thông qua việc tạo dựng hình ảnh người mẹ bằng thủ pháp đối lập, dùng những động từ mạnh (giặc Pháp hiện nguyên hình là một lũ ác thú có hình thù kì quái bất chợt ập đến giày xéo, chà đạp >< cuộc đời bà “già nua”, “còm cõi” yếu ớt; “khua giày đinh” >< “đạp gãy quan gày teo”, “xì xồ cướp bóc” >< “tan phiên chợ nghèo”; những từ rất gợi cảm “trừng trợn”, “khua”, “tan”…). Tất cả tạo nên sự tương phản: giữa sự yếu ớt, nhỏ nhoi với sự thô bạo, giữa nhân tính và thú tính. Điều đó làm khơi dậy trong trái tim độc giả biết bao nỗi căm hờn, đau xót:
                “Lá đa lác đác trước lều
                Vài ba vết máu loang chiều mùa đông”
Hai câu thơ đã tạo được nhiều hình ảnh vừa thực, vừa ảo, vừa cụ thể, vừa tượng trưng rất hàm súc và gợi cảm.
3. Hình ảnh bà mẹ già với “mái đầu bạc phơ” in lên giữa nền trời mùa đông lạnh giá, loang lổ đang bước cao bước thấp trên con “Đường trơn mưa lạnh”, “bên bờ tre hun hút” hoà lẫn với hình ảnh “con cò trắng bay vùn vụt”, “lướt ngang dòng sông Đuống về đâu” làm cho hình ảnh những nạn nhân của cuộc xâm lược càng trở nên bi thương gấp bội.
4. Hai đoạn thơ của Hoàng Cầm viết về người mẹ “cực nhọc” “côi cút” và nỗi xót xa của tác giả đối với quê hương được “nén lại” trong hai câu lục bát thật ý nghĩa thẩm mĩ.
“Mẹ ta lòng đói dạ sầu
Đường trơn mưa lạnh mái đầu bạc phơ”.
(Chú ý phân tích kết cấu cú pháp đặc biệt của câu thơ, những hình ảnh hô ứng, bổ sung cho nhau, và đặc biệt từ “sầu” đi liền với chữ “đầu”).
   B. Hình ảnh người mẹ ở đoạn thơ thứ thư hai: “Đêm buông xuống… không nói năng”.
1. Trên đây là hình ảnh người mẹ xuất hiện với tư cách là một nạn nhân bi thương của chiến tranh xâm lược. “Bên kia sông Đuống” còn có hình ảnh bà mẹ nghèo khổ, bền bỉ, kiên trinh, bất khuất đêm đêm lắng nghe những “âm thanh sự sống” của những đứa con cách mạng về giải phóng quê hương. Đoạn thơ đã diễn tả được cuộc đối thoại chân thật, cảm động giữa bà mẹ vùng địch hậu với những chiến sĩ du kích, bộ đội. Qua đó, tác giả vừa làm nổi bật “tình mẹ” bao la đối với các anh bộ đội, đối với những đau khổ vô hạn mà nhân dân ta phải gánh chịu, vừa làm toả sáng mối tình quân dân keo sơn, nguồn gốc của mọi thắng lợi.
2. Thời điểm “đêm buông xuống” là thời điểm đầu cho sự chuẩn bị những trận đánh, lập những chiến công, làm cho quân giặc phải “Quay cuồng như xéo trên đống lửa”. Câu thơ đầu có sự láy âm “buông” “xuống”, “Đuống” giàu màu sắc tạo hình và rất gợi cảm như màn đêm buông xuống nhẹ nhàng, như được che chở bởi tấm lòng mẹ mênh mông, dịu dàng.
3. Đoạn thơ có sự đối thoại như một màn kịch tạo cho độc giả có cảm giác mình đang được tham dự vào câu chuyện và tự mình chứng kiến diễn biến của nó. Với mẹ, những đứa con đã trở thành “nỗi nhớ da diết, thành nỗi ước mong cháy bỏng, thành niềm tin mãnh liệt. Không phải cho bản thân mẹ, mà cho quê hương.”. Cho nên mẹ đã đón các con với tất cả cử chỉ dịu dàng, tin yêu, cẩn trọng, che chở: “Hé một cánh liếp” và hàng loạt câu hỏi của mẹ được nêu ra liên tiếp. Điều đó đã tạo cho đoạn thơ một nhịp điệu dồn dập, thể hiện chân thật niềm mong đợi cháy lòng của mẹ, của nhân dân ta và những hành động khẩn trương của người chiến sĩ, anh bộ đội cụ Hồ “lai vô ảnh khứ vô hình
- “Lửa đèn leo lét soi tình mẹ” câu thơ tạo được hình ảnh đối lập làm nổi bật sự ấm áp của tình mẹ và cũng là tình cảm của nhân dân giữa hoàn cảnh sống đen tối, lạnh giá của đêm vùng tạm chiếm. “Khuôn mặt bừng lên như dựng trăng” là một câu thơ rất hay. Nó diễn tả được khuôn mặt rạng rỡ, mát lành của người mẹ vì niềm vui gặp gỡ bất ngờ. Đúng là “nhà lá đơn sơ, tấm lòng rộng mở”.
4. Hai câu cuối, diễn tả những tâm sự của mẹ đối với các con diễn ra thật ấm áp và xúc động:
“Ngậm ngùi tóc trắng như thầm kể
Những chuyện muôn đời không nói năng”.
Mẹ chỉ lặng im nhưng mái tóc trắng của mẹ đã kể với ta rất nhiều điều. Những điều mà ai cũng thấu hiểu tự đáy lòng. Đó là chuyện tình yêu gia đình, quê hương, là sự căm thù quân xâm lược, là khát khao xây dựng cuộc sống yên vui… Toàn là những chuyện của “muôn đời” vì thế, đây là sự lặng im “ngậm ngùi, xót xa, chia sẻ và có hi vọng”.
III. Kết luận
Lời nói của mẹ đã trở thành lời của quê hương thân yêu, đang nhắn nhủ những điều thiêng liêng, thúc giục những đứa con chiến sĩ “bắt đầu xuất kích” trong buổi ban mai rạng rỡ, khiến cho “trại giặc phải run trong sương”. Rõ ràng hình ảnh những người mẹ như thế đã trở thành cội nguồn sức mạnh Việt Nam và nguồn gốc của mọi thắng lợi.
   “Đất quê ta mênh mông, lòng mẹ rộng vô cùng
   Nơi hầm tối nhất là nơi sáng nhất

   Nơi con nhìn ra sức mạnh Việt Nam".

0 nhận xét:

Đăng nhận xét