15 tháng 8 2015

So sánh hai tác phẩm Chí phèo và Vợ nhặt

Câu 1.1:  Truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao và truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân đều viết về tình cảnh những người nông dân trước Cách mạng tháng Tám 1945.
a) Phân tích những khám phá riêng của mỗi tác giả về số phận và những cảnh ngộ của người nông dân trong mỗi tác phẩm.
b) Chỉ ra sự khác nhau trong cách kết thúc của hai thiên truyện. Giải thích vì sao có sự khác nhau ấy. Nêu ý nghĩa của mỗi cách kết thúc.
c) Phân tích nét đặc sắc trong tư tưởng nhân đạo của mỗi tác phẩm..
                                                         Bài làm 
Văn học phản ánh hiện thực cuộc sống và chính vì vậy mà ta thấy có một đề tài đã trở nên quá quen thuộc trong văn học: đề tài về số phận, tình cảnh của người nông dân trước Cách mạng tháng Tám 1945. Đã có rất nhiều tác phẩm cho thấy cái nghèo khổ của người nông dân trong xã hội thực dân nửa phong kiến. Nhưng có lẽ đến Nam Cao người ta mới thấy được cái nỗi khổ tột cùng ấy, nỗi khổ của một số phận bị chà đạp, mất hết cả nhân hình nhân tính, nỗi khổ vì bị cự tuyệt quyền làm người. Và đến ““Vợ nhặt” của Kim Lân là nỗi khổ của những thân phận rẻ rung trong cái đói cái nghèo. Thành công của hai tác phẩm không chỉ ở đề tài mà là ở sự phát hiện cái mới, cái riêng chưa hề có trong văn học. Dù mỗi tác phẩm có một hướng đi khác nhau, nhưng quy tụ lại vẫn là để nói sao cho được hết cái số phận nghèo khổ, cảnh ngộ bần cùng của người nông dân bằng những tấm lòng nhân đạo cao cả nhất.
A. “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố và “Bước đường cùng” của Nguyễn Công Hoan ra đời đã nói lên được nỗi thống khổ của người nông dân trong xã hội cũ. Nhưng người ta nói rằng phải đến khi Chí Phèo ngật ngưỡng bước ra từ trang sách thì nỗi khổ ấy mới được tái hiện một cách đầy đủ nhất.
“Chí Phèo” được xem như kiệt tác của Nam Cao, viết vào năm 1941. Tác phẩm ra đời gây một tiếng vang lớn, đưa Nam Cao lên đến đỉnh cao của thành công nghệ thuật. Bởi bản thân tác phẩm mặc dù đi theo đề tài cũ song lại có một sự khám phá mới mẻ. Khám phá về cuộc sống của người nông dân trong tận cùng nỗi khổ, trong bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người, khao khát ước mơ một cuộc sống lương thiện, nhưng lại bị chà đạp tàn bạo về nhân phẩm khiến người không được làm người, mà biến thành quỷ, bị xã  hội xa lánh.
Cùng một đề tài về người nông dân, song Kim Lân lại tìm cho mình một hướng đi khác. Trong tác phẩm “Vợ nhặt” ta thấy được hình ảnh khốn cùng của người nông dân trong nạn đói 1945, thân phận bị rẻ rúng, cái chết cận kề, song họ vẫn khao khát, ước mơ và hi vọng.
Như vậy cái chung của hai tác phẩm là đều viết đề tài người nông dân trước Cách mạng tháng Tám 1945, song mỗi tác phẩm lại có sự khám phá riêng về số phận và cảnh ngộ của người nông dân.
Đọc xong tác phẩm “Chí Phèo”, ta thấy không khỏi xót thương cho thân phận người nông dân. Nhìn toàn bộ khung ảnh của nông thôn Việt Nam lúc đó như một “khu vườn hoang cuối mùa” mà ở đó người nông dân phải chịu sự hà hiếp đục khoét của bọn cường hào. Bọn cường hào địa chủ trong làng dùng những thủ đoạn dã man đẩy người nông dân vào bước đường cùng không lối thoát. Như Năm Thọ, Binh Chức và đến Chí Phèo đều là các nạn nhân của những thủ đoạn tàn bạo ấy. Năm Thọ, Binh Chức là người hiền lành nhưng ở tù về đều trở thành kẻ lưu manh, biến chất. Chí Phèo cũng vậy, từ một nông dân khỏe mạnh, một con người có ước mơ, khát khao giản dị: một gia đình chồng cày thuê cuốc mướn, vợ dệt vải. Nhưng rồi cái ước mơ nhỏ bé và chính đáng ấy cũng không bao giờ thực hiện được. Từ một thanh niên khỏe mạnh đi làm canh điền cho nhà Bá Kiến, Chí Phèo đã trở thành một tên lưu manh tha hóa biến chất. Đó là kết quả của nhà tù thực dân, mà người trong làng không hiểu vì sao Chí Phèo phải đi ở tù. Chỉ biết rằng sau những lần bị bà ba Bá Kiến sai làm việc không chính đáng, cụ Bá biết được và Chí Phèo bỗng nhiên phải đi ở tù để rồi về làng với diện mạo của một con quỷ dữ, mất cả nhân hình nhân tính. “Trông hắn đặc như thằng săng đá, đầu cạo trọc lốc, răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà rất cơng cơng, hai mắt gườm gườm trông gớm chết”. Với diện mạo ấy, Chí Phèo đã bị xã hội gạt bỏ. Nỗi khổ đầu tiên là nỗi khổ bị con người xa lánh. Chí Phèo ra tù về làng đã cất lên tiếng chửi, tiếng chửi ấy dù có thô tục đến đâu song nó vẫn là tiếng thổn thức khát khao giao hòa nơi cuộc sống con người của Chí mà nhà văn muốn nói với chúng ta. Nhưng người làng Vũ Đại ngoảnh mặt đi với Chí. “Hắn chửi trời, trời chẳng của riêng nhà nào, hắn chửi đời, đời là tất cả nhưng cũng chẳng là ai. Tức mình hắn chửi ngay tất cả làng Vũ Đại. Nhưng ai cũng nghĩ : “ Chắc nó trừ mình ra!”. Vậy là con người không thèm ném cho hắn dù chỉ là một tiếng chửi để rồi người đời thấy đau xót khi nghe hắn chửi cả “người đẻ ra hắn”.
Nỗi khổ của người nông dân trong tác phẩm được nói đến từ nhiều khía cạnh, Chí Phèo khổ vì bị mọi người xa lánh, để rồi cuộc đời khi ra tù của hắn chỉ có một nghề là rạch mặt ăn vạ. Nhưng khi viết về nhân vật Thị Nở, Nam Cao cũng cho chúng ta thấy đó là nỗi khổ của người nông dân với cái hình thức “xấu như ma chê quỷ hờn”.
Lúc đầu mới đọc ta tưởng Nam Cao thiên về chủ nghĩa tự nhiên, tưởng rằng ngòi bút ấy lạnh lùng nhưng để rồi cuối cùng lại thấm đượm một tình cảm yêu thương, đằm thắm. Thị Nở là người mà hình như cả làng Vũ Đại cũng gần như xa lánh, bởi thị là “sự mỉa mai của tạo hóa”, thị “ngẩn ngơ như người đần trong cổ tích”. Vậy từ khi thị sinh ra đã không phải kết quả của một cuộc sống ấm nông dân hạnh phúc, đủ đầy. Với một bộ mặt, một tính cách như vậy, Thị Nở phải chăng cũng chỉ là người thừa trong xã hội ấy. Nói về cái xấu xa nhưng là để nói về tận cùng nỗi khổ mà thôi.
Số phận của người nông dân là thế, số phận của họ gần như đã an bài mà trong cách miêu tả của tác giả từ Năm Thọ, Binh Chức đến Chí Phèo thì cuộc đời họ như bị nhà tù án ngữ nơi cuối đường đi. Còn Thị Nở cũng bị con người xa lánh, chưa bao giờ thị làm được người bình thường cả.
Ấy vậy mà đỉnh cao của nỗi khổ lại chưa phải ở đó, mà ở bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người. Người nông dân hiền lành chất phác với bản tính nhân hậu tiềm ẩn vẫn khát khao một cuộc sống no ấm, đủ đầy, vẫn khao khát quyền làm người. Chí Phèo đã mất quyền làm người bởi ai xóa hết đi cho hắn những vết mảnh chai trên mặt, những vết vằn ngang vằn dọc…Tưởng gặp được Thị Nở, con người ấy có xấu nhưng vẫn ấm áp tình cảm con người, đã làm thức dậy ở Chí Phèo những khao khát ước mơ, hạnh phúc. Chí Phèo muốn được làm người. Chí Phèo muốn trở thành lương thiện nhưng cái hủ tục của xã hội cũ, những định kiến lạc hậu mà bà cô Thị Nở là đại diện của nó đã tước đoạt đi của Chí Phèo quyền làm người, ước mơ xây đắp hạnh phúc ấy. Chí Phèo đã đứng bên bờ của lương thiện, nhưng cái đau đớn nhất là ước mơ, là quyền làm người chính đáng ấy bị cự tuyệt. Đến Thị Nở, một người xấu “ma chê quỷ hờn” mà Chí Phèo vẫn không “xứng đáng” với thị. Vậy thì xã hội đó còn ai? Còn ai thương lấy Chí? Nỗi khổ tận cùng của người nông dân là như vậy.
Trong “Vợ nhặt”, nỗi khổ, số phận cảnh ngộ của người nông dân được thể hiện rõ trong cảnh đói kinh niên 1945, khi mà cái đói tràn đến xóm ngụ cư. Những người từ các tỉnh Thái Bình, Nam Định…dắt díu nhau lên “xanh xám mặt mày”, ngày nào người ra đồng cũng thấy ba bốn cái thây nằm còng queo, tiếng quạ kêu thê thiết từng hồi. Cảnh đói đã đẩy người nông dân vào cảnh khốn cùng, họ đang kề cận bên cái chết song vẫn khao khát và ước mơ một cuộc sống tốt đẹp hơn. Những người dân xóm ngụ cư nói chung và gia đình Tràng nói riêng đều chìm trong cảnh đói. Bởi thế việc Tràng lấy vợ là một bất ngờ lớn, mọi người xem đó như “cái nợ đời” như là đèo bòng. Bữa cơm ngày đói cũng chẳng có gì, bữa cơm đó chỉ là mấy bát “chè khoán” khi ăn Tràng thấy nghẹn bứ ở cổ. Khổ hơn nữa thân phận rẻ rúng của cô vợ nhặt, chỉ vì miếng cơm mà về làm dâu nhà Tràng, theo không Tràng về mặc dù biết cảnh nhà Tràng cũng đói khát.
Cảnh đói của người nông dân đặt trong cảnh trống thúc thuế, phá lúa trồng đay của bọn thực dân phát xít. Chìm trong nạn đói kinh niên ấy con người phải đấu tranh, phải giành giật sự sống mà tiêu biểu là cô vợ nhặt – người con gái về nhà chồng mà chỉ bằng mấy câu hò bâng quơ và bốn bát bánh đúc của Tràng. Người con gái ấy quên đi nỗi xót xa của thân phận bám riết lấy sự sống quên đi cái nhục, vượt lên trên nó để mà sống, mà tồn tại. Còn Tràng, một nông dân xấu xí thô kệch bỗng nhiên có vợ, nhưng bà cụ Tứ (mẹ Tràng) đã hiểu ra cơ sự, chỉ vì đói mà người ta mới cần đến con mình. Nhưng lòng nhân hậu ấy khiến bà mẹ bằng lòng, vun vén cho cuộc sống của các con.
Gia đình Tràng cũng như bao gia đình khác trong xóm ngụ cư phải giành giật với sự sống. Họ thiếu miếng cơm, phải sống bằng “bát chè khoán”, nhưng tất cả đều chấp nhận, bởi họ tin vào tương lai.
B. Kết thúc hai truyện hoàn toàn khác nhau. Trong truyện “Chí Phèo” kết thúc là cái chết của Chí Phèo sau khi đâm chết Bá Kiến. Đó là cái chết của một người khao khát quyền sống, quyền làm người nhưng không được xã hội chấp nhận. Chí Phèo uống rượu, càng uống càng tỉnh, miệng bảo đến nhà Thị Nở để giết chết “con khọm già nhà nó”, nhưng bước chân lại đưa Chí Phèo đến nhà Bá Kiến. Trong tiềm thức sâu xa, Chí Phèo hiểu và nhận thức được đâu là kẻ thù của mình, đâu là kẻ tước đi cái bản chất lương thiện của Chí. Chính vì vậy, Chí Phèo đã đến nhà Bá Kiến, cất cao giọng đòi quyền lương thiện nhưng Bá Kiến – kẻ hung ác xảo quyệt không hiểu được điều đó. Kết cục là cái chết của kẻ thống trị và người bị trị, kẻ áp bức bóc lột và người bị áp bức bóc lột.
Còn trong “Vợ nhặt”, kết thúc tác phẩm lại là niềm vui của gia đình Tràng, niềm tin trong mỗi con người. Bởi hình ảnh của lá cờ đỏ sao vàng, bởi hình ảnh của những người đi phá kho thóc hay đúng hơn là “Vợ nhặt” chính là cái buổi giao thời của xã hội cũ và xã hội mới.
Sở dĩ có sự khác nhau ấy bởi tác phẩm “Chí Phèo”“Vợ nhặt” mặc dù viết về đề tài chung là tình cảnh người nông dân trước Cách mạng tháng Tám 1945, song tác phẩm của Nam Cao viết năm 1941, còn “Vợ nhặt” được viết sau khi Cách mạng thành công. Mỗi tác phẩm thuộc một thời kì văn học khác nhau. “Chí Phèo” nằm trong thời kì văn học từ đầu thế kỉ XX đến 1945 thuộc dòng văn học hiện thực phê phán. Cái chung hầu hết của các tác phẩm lúc đó là chưa tìm ra lối thoát cho người nông dân, kết cục thường bế tắc. Mặc dầu “Chí Phèo” có kết thúc được xem là hợp lí song vẫn nằm trong sự hạn chế chung đó.
Còn “Vợ nhặt” thuộc nền văn học Cách mạng 1945 – 1975, xu thế chung của các tác phẩm trong thời kì này là tìm ra cho nông dân con đường đấu tranh tự giải phóng mình, hướng họ đến với Cách mạng. Mỗi tác phẩm mang một cách nhìn tại những thời điểm khác nhau của lịch sử nên ít nhiều nó mang ảnh hưởng của xu thế văn học ở mỗi thời đại.
C. Giá trị nổi bật của hai tác phẩm không chỉ ở giá trị hiện thực mà còn ở giá trị nhân đạo. Nhà văn cảm thông với nỗi khổ của người nông dân, phát hiện những phẩm chất tốt đẹp của họ. Từ đó lên tiếng tố cáo xã hội đầy bất công đã đẩy con người vào tình cảnh đó.
“Chí Phèo”, Nam Cao cảm thông với nỗi khổ khôn cùng của một người  nông dân khi bị tước đoạt quyền sống, quyền làm người. Nói về cái tật xấu của Thị Nở nhưng là nói về cái khổ tận cùng, để từ đó lên tiếng yêu thương bênh vực họ.
Tác phẩm phát hiện ra vẻ đẹp của người nông dân kể cả khi tưởng như họ là một con quỷ mất hết nhân tính, nhưng trong họ vẫn còn khao khát ước mơ. Có người còn cho rằng trong tác phẩm duy chỉ có Thị Nở - một người không có bộ mặt người nhưng lại mang tính người. Đó phải chăng là sự phát hiện tinh tế của Nam Cao về những con người tưởng bề ngoài xấu xí mà lại tiềm ẩn bản chất tốt đẹp, từ đó nhà văn lên tiếng tố cáo xã hội thực dân với nhà tù, với những thủ đoạn thống trị, đã chà đạp lên quyền sống, lên nhân phẩm của con người.
Còn trong “Vợ nhặt” là lòng cảm thông với những số phận nghèo khổ trong cảnh đói, thông cảm với nỗi đau của họ. Để rồi từ đó là lời ca ngợi những con người có phẩm chất sống cao đẹp. Dù trong hoàn cảnh đói khổ như vậy, họ vẫn khát khao sống, bám lấy sự sống như một quy luật tất yếu của sự sinh tồn. Cả những người dân xóm ngụ cư đều hướng cả về sự sống. Gia đình Tràng cũng vậy, mặc dù việc Tràng lấy vợ trong lúc đói kém khó khăn, thiếu ăn thiếu mặc, nhưng Tràn vẫn “chậc, kệ”, để nghĩ về cuộc sống mới, bà cụ Tứ thu vén cho tương lai của các con.
Tác phẩm tố cáo xã hội tù túng đã đẩy con người vào đói khổ, những thủ đoạn cai trị của bọn thực dân phong kiến đã đẩy nhân dân ta vào nạn đói khủng khiếp năm 1945.

“Chí Phèo” “Vợ nhặt” của Nam Cao và Kim Lân là hai tác phẩm thành công xuất sắc về đề tài nông dân trước 1945. Đề tài không mới, song cái làm nên thành công của hai tác phẩm là ở sự phát hiện, khám phá riêng về cảnh ngộ người nông dân và tư tưởng nhân đạo đặc sắc mới mẻ.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét