15 tháng 8 2015

So sánh hai tác phẩm Chí phèo và Vợ nhặt

Câu 1.3:  Truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao và truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân đều viết về tình cảnh những người nông dân trước Cách mạng tháng Tám 1945.
a) Phân tích những khám phá riêng của mỗi tác giả về số phận và những cảnh ngộ của người nông dân trong mỗi tác phẩm.
b) Chỉ ra sự khác nhau trong cách kết thúc của hai thiên truyện. Giải thích vì sao có sự khác nhau ấy. Nêu ý nghĩa của mỗi cách kết thúc.
c) Phân tích nét đặc sắc trong tư tưởng nhân đạo của mỗi tác phẩm..
                                                          Bài làm 
“Hắn đấy!
-   Đâu phải. Sao lại bê bết máu thế kia?
-   Hắn giết cụ Bá rồi tự đâm vào cổ mình.
-   Hắn không đòi tiền, đòi đi ở tù nữa à?
-   Hắn đòi lương thiện. Khiếp!
-   Không khóc, không đưa ma Chí Phèo à?
-   Bỡn, bà cô… Rồi hắn sẽ rũ xương ở bãi đất cạnh bờ sông ấy thôi.
-   À, ra thế! Chao ôi, hắn vừa đi vừa chửi đã chết rồi!
Có lẽ không có tác phẩm văn học nào lại ám ảnh, lại bám riết tâm trí một cách cao độ, lại cho tôi một sự tự lấp chỗ trống như truyện ngắn “Chí Phèo”.
Những trang văn của Nam Cao khép lại, nhưng tôi vẫn hình dung ra, phân thân và cố nhập vào Thị Nở để mà hỏi và trả lời. Thị Nở - người đàn bà duy nhất và thứ nhất của làng Vũ Đại đã dành cho Chí một chút ấm tình thương, một thứ tình yêu của những kẻ dở hơi, liệu có dành cho Chí những giọt nước mắt không? Còn làng Vũ Đại – nơi luôn ầm lên tiếng chửi của Chí, né tránh, ghê sợ Chí, liệu có đưa ma cho một con quỷ dữ, cho một thằng chỉ biết rạch mặt ăn vạ? Tôi nghĩ: hẳn không. Số kiếp với bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của Chí Phèo đã lên đến đỉnh điểm rồi. Và chỉ như thế mới biểu thị sâu sắc những ý tưởng của nhà văn lớn Nam Cao.
Tưởng đâu số kiếp nghiệt ngã, bần cùng đến cực độ của Chí Phèo sẽ khép lại và không nổi váng trong những tác phẩm sau Cách mạng nữa. Đọc “Vợ nhặt” của Kim Lân – một sáng tác ra đời khi mà chế độ mới đã tỏa sáng được dăm bảy năm, tôi vẫn bắt gặp một kiếp người như thế, một thế giới nhân vật như thế.
Như vậy, giữa Nam Cao và Kim Lân – hai nhà văn này bằng một cách chung nhất là tái hiện sinh động và chân thực số phận và cảnh ngộ của người nông dân trước Cách mạng tháng Tám 1945 đã đưa tới cho người đọc những hiểu biết sâu sắc, mới mẻ. Con người nông dân, thân phận họ trở thành nạn nhân bi thảm nhất giữa cái xã hội xám xịt bởi cái đói, cái chết, cái tối tăm và ác nghiệt. Sống chung dưới một gầm trời đang loạn và khổ đau, Chí Phèo cũng như gia đình anh Tràng trong tác phẩm “Vợ nhặt” đều không thoát khỏi cảnh cơ cực, cảnh tủi nhục: “Đói rét, ốm đau và cô độc, cái này còn đáng sợ hơn cả đói rét và ốm đau”.
Với cách khám phá riêng trên một đề tài lớn, cả Nam Cao và Kim Lân đều có những thể hiện khác nhau về số phận, cảnh ngộ của họ. Nếu Nam Cao đặt hình tượng Chí Phèo vào một kiếp người điển hình – cùng hơn cả dân cùng – bị lưu manh hóa thì Kim Lân lại gửi gắm qua thế giới nhân vật của mình bao cảnh ngộ bi thương, tàn lụi. Nếu Nam Cao khẳng định chắc chắn rằng, cái xã hội phong kiến nửa thực dân tàn ác và đầy rẫy định kiến kia sẽ không cho những con người cố nông lương thiện tìm lại bản chất tốt đẹp ban đầu của mình, thì Kim Lân cho chúng ta thấy trong đói rét và khổ cực, trong đau thương con người không đánh mất đi những thuộc tính đẹp đẽ.
Trước và cùng thời với truyện ngắn “Chí Phèo” nhiều điển hình về người nông dân qua văn chương đã xuất hiện. Một chị Dậu mà cuộc đời và mảnh đất tương lai đều đã chìm khuất trong bóng “ Tắt đèn”  của Ngô Tất Tố, một anh Pha trong “Bước đường cùng” đầy bế tắc của Nguyễn Công Hoan. Nhưng so với Chí Phèo, họ vẫn có chút hạnh phúc và vinh dự làm người, được xã hội công nhận, còn Chí Phèo – anh ta đã trở thành  một con người cô độc, cô độc đến tuyệt đối. Chí Phèo sống chủ yếu với xã hội, với cộng đồng bằng tiếng chửi: "Hắn vừa đi vừa chửi. Cứ rượu xong là hắn chửi”. Chí Phèo chửi trời, chửi đời, chửi cả làng Vũ Đại. Như thế Chí đã đối lập hoàn toàn với con người, với xóm thôn mình đang sống. Nhưng chưa hết, Chí Phèo còn chửi cả “Mẹ đứa nào đã đẻ ra hắn”. Chao ôi! Còn gì chua xót và đau đớn, một kẻ đã phủ định ngay cả nguồn gốc thiêng liêng của chính bản thân mình.
Mà đúng ra, nguồn gốc của Chí đã trở thành mơ hồ. “Đứa mẹ” nào ấy đã bỏ hắn “trần truồng xám ngắt” bên lò gạch bỏ không. Người nhặt hắn về là một anh đi thả ống lươn, người nuôi hắn là một bác phó cối không con. Khi người này chết, Chí Phèo đi làm thuê cho nhà này, nhà khác. Năm hai mươi tuổi, Chí đảm trách công việc canh điền cho nhà Bá Kiến. Dẫu sao trong quãng thời gian này, Chí Phèo sống là nhờ vào mồ hôi và sức lao động của mình. Vì một sự ghen tuông không đâu, Chí Phèo bị Bá Kiến đẩy vào tù. Mấy năm đi tù Chí Phèo đã khác hẳn. Nhà tù đã đánh dấu trên thân thể và linh hồn nhân tính của Chí bao khổ ải, đọa đày đã đành nhưng còn đóng dấu ở Chí một dòng chất của tội ác và quỷ dữ. Từ ấy Chí Phèo sống trong cơn say. Con người nông dân hiền lành ở Chí Phèo dần bị xóa nhòa theo dăm ba hào rượu của cụ Bá. Khốn khổ thay cho Chí, khi người ta vẫn còn sức lực để đủ làm đủ sống, nhưng Chí Phèo “về giữa cái làng này, một thước đất cắm dùi không có lấy gì làm nên ăn”. Tình cảnh người nông dân, mà Chí Phèo là tiêu biểu, phần lớn là thế. Họ muốn sống bằng sức lao động chân chính nhưng xã hội không đủ rộng lượng. Họ đành tha phương cầu thực hay tìm đến cái chết bi thảm để như tìm thấy một giải pháp tình thế: anh con trai của lão Hạc, Binh Chức, rồi Năm Thọ… Với Chí Phèo, khi mà hắn còn đủ dữ tợn, điên khùng thì còn được trọng dụng. Chí Phèo đã bán dần nhân phẩm của mình cho cụ tôn chỉ làng Vũ Đại để qua ngày.. Từ đây Chí Phèo trở thành một công cụ mù quáng trong tay lão cáo già “khôn róc đời” Bá Kiến. Cảnh ngộ Chí Phèo đã nằm trong đoạn đường đen tối nhất, không có lối ra và ánh sáng. Chí Phèo cũng không nhận thức ra được điều đó. Sống trong tình trạng “say vô tận” tràn từ cơn say này sang cơn say khác, Chí Phèo đã không nhận biết được cái xã hội tàn bạo mà đại diện là những tên cường hào độc ác, nham hiểm như Bá Kiến, Đội Tảo… đã lừa gạt, đã giết chết anh. Chí cũng không biết rằng mình đã gây ra bao nhiêu tội ác đối với người dân lương thiện làng Vũ Đại và chính mình cũng đã nhờ tội ác, nhờ bàn tay rạch mặt ăn vạ của mình để tồn tại.
Mà Chí Phèo tồn tại đấy “vừa đi vừa chửi”, nhưng ai công nhận Chí. Tiếng chửi của Chí như hàm ẩn một nhu cầu giao tiếp, một khát khao trả lời cho bao nỗi lòng uất ức. Sau tiếng chửi chỉ có tiếng chó sủa xa xa. Dường như Chí Phèo chỉ được một thế giới loài vật công nhận mà thôi. Sống không ra sống và Chí cũng đánh mất cả hình dáng người, nhân tính người trong mình. Chí gây tội ác thử hỏi ai công nhận, ai trả lời Chí? Linh hồn Chí đã gửi cho quỷ dữ, lòng lành Chí đang biến mất đi, thử hỏi Chí làm sao mà được và chắc rằng không trở về được với đời thường. Đến đây cảnh ngộ của Chí tưởng đã tối đen như mực rồi. Thiên truyện ngắn này làm cho ta hiểu rằng, Chí Phèo sẽ chẳng còn cơ hội để sống bình thường như xưa nữa. Nhưng không! Bao nhiêu hi vọng trên đời của con người cũng đều dành cho những điều tốt đẹp, cho ánh sáng và trước nhất là cho tình thương. Chí Phèo cũng thế.
Trong lần say rượu trên bến sông, Chí Phèo đã gặp Thị Nở - một con người dở hơi, một người đàn bà xấu “ma chê quỷ hờn”. Hai con người tội nghiệp đã đến với nhau với một thứ tình cảm mà theo Thị Nở “thấy ngường ngượng mà thinh thích”: cảnh vợ chồng. Thị Nở đâu phải khơi dậy khả năng sinh vật trong gã đàn ông Chí Phèo, mà bằng một tình thương chân thành đã khơi dậy phẩm chất của người Chí. Bát cháo hành đã làm nên liều thuốc giải độc, đã tẩy ố đi men rượu và sưởi ấm một trái tim đã cằn phai của Chí. Lần đầu tiên trong đời Chí Phèo được chăm sóc bởi bàn tay người đàn bà, lần đầu tiên Chí thấy mắt mình ươn ướt. Đặc biệt hơn, Chí Phèo còn cảm nhận được âm thanh của cuộc sống ngọt ngào hàng ngày, mà trước kia vì say Chí không hề biết: “Tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá. Tiếng anh chèo thuyền gõ mái chèo đuổi cá”. Chí nhớ lại, tìm về một thời xa xưa mà Chí đã từng ao ước: “Có một gia đình nho nhỏ. Chồng cuốc mướn, cày thuê. Vợ dệt vải. Chúng lại bỏ một con lợn nuôi để làm vốn liếng. Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm”. Chao ôi, sao có lúc Chí hiền như đất, ai bảo đó là thằng Chí Phèo đã từng rạch mặt ăn vạ? Đó chính là bản tính người của Chí ngày thường bị vùi lấp đi. Quả thật, Thị Nở đã tái sinh cho tâm hồn Chí Phèo. Nếu trước kia cụ Bá tàn nhẫn, độc ác đẩy Chí xuống bùn đen tội lỗi, thì ngày nay, Thị Nở đã dần níu kéo Chí lên với cuộc đời lương thiện. Chất văn cứ ngời ngợi, tình người cứ lan tỏa mênh mông trong đoạn văn ấy, trong cảnh sống ấm áp năm ngày của hai con người kì lạ nhất làng Vũ Đại ấy. Ta hiểu rằng, qua đây Nam Cao muốn nói một điều rất thực mà cũng rất chua xót rằng: Chí Phèo muốn làm hòa với mọi người, Chí khát khao trở lại cuộc sống xã hội bằng phẳng và thân thiện. Liệu ước ao ấy có được biến thành hiện thực không? Liệu cuộc đời của Chí đã tái sinh hẳn, đã xanh tươi lại hẳn?
Thực ra Chí cần thế thật. Điều đó cũng tốt đẹp cho bao người. Có người nông dân hiền lành nào mà muốn bị bứt ra khỏi quê hương bản quán, muốn bị phủ nhận mình đâu. Nhưng, một nhà văn hiện thực lớn như Nam Cao, ông còn khẳng định một tình cảnh bi thảm hơn bao cảnh bi thảm khác. Người nông dân không có đất làm ăn đã đành, bị tha hóa lưu manh, bị hủy hoại diện mạo và linh hồn đã đành, nhưng khi muốn trở về với xã hội cũ cũng chẳng được. Đó là một khám phá rất riêng, khó lẫn lộn, là một tiếng keu xé trời của Nam Cao thông qua hình tượng người nông dân Chí Phèo.
Đến với “Vợ nhặt”, Tràng và gia đình đang lâm vào nạn đói chung của xóm ngụ cư, của cả xã hội Việt Nam lúc bấy giờ - năm Ất Dậu 1945. Cái đói mà bản án thảm khốc của nó đã đè nặng lên tâm trí, lên cảnh ngộ rồi giết chết bao người nông dân tội nghiệp.
Xóm ngụ cư, nơi gia đình Tràng kiếm ăn, có la liệt xác người chết, tiếng hờ khóc và mùi gây của xác người làm vấy đục cả không gian. Tràng chạy ăn từng bữa, cái lưng to rộng như lưng gấu của anh, dáng người chúi về phía trước ấy cho thấy một cuộc sống cực nhọc đến thảm hại. Trong tình cảnh mà không ai dám chắc là sẽ qua được tháng ngày ấy, nhưng Tràng lại có một hành động lạ kì: cưới vợ. Đúng hơn là “nhặt” được vợ. Tình huống oái oăm, trớ trêu đầy thương cảm này là một khám phá trong chiều sâu của tâm hồn người nông dân qua ngòi bút nhà văn Kim Lân. Số phận con người mong manh thật, nguy hại thật, nhưng người ta vẫn luôn gắn bó và mơ ước đến với nhau. Ngay cả người mẹ Tràng - bà cụ Tứ - mà cuộc đời đầy khổ hạnh của cụ cũng trở thành một niềm thương dành cho người con dâu rách rưới mà trong cái bần cùng mới tự đến với Tràng kia.
Viết “Vợ nhặt”, Kim Lân có ý định thổi vào đó luồng không khí của những ngày Cách mạng tháng Tám sục sôi, lúc mà người nông dân “rũ bùn đứng dậy sáng lòa” (Nguyễn Đình Thi). Kết thúc truyện là hình ảnh lá cờ Việt Minh bay phấp phới cùng đoàn người kéo nhau đi phá kho thóc đâu đây trong óc Tràng. Một cái kết làm ta hi vọng và trước hết là làm gia đình Tràng hi vọng. Biết đâu, mai đây trong đoàn người ấy sẽ có Tràng, có bà cụ Tứ và cả cô vợ của Tràng nữa. Nó như một luồng ánh sáng rọi vào và làm bùng cháy lên ý thức phản kháng trong người nông dân. Nó mở ra một con đường mới và một dấu hiệu cuộc đời mới cho họ. Nó làm nên một ngày mới trong cuộc đời, là một thông điệp xanh của hi vọng vào ngày tương lai. Với truyện ngắn “Chí Phèo”, cách kết của Nam Cao có khác. Sau năm ngày chung sống, và tình yêu của thị có ý nghĩa như tia chớp lóe lên trong cuộc đời tăm tối của Chí rồi tắt lịm. Thị sợ bà cô và chính bà cô đã manh nha cho thị hành động từ chối Chí Phèo đến quyết liệt. Không cứu vãn được tình thế, Chí Phèo uống rượu rồi xách dao định đi đâm chết “con mụ khọm già” và Thị Nở. Nhưng lúc này Chí Phèo đã tỉnh, đã nhận ra tình cảnh của mình chính do bàn tay Bá Kiến. Y dõng dạc đòi Bá Kiến: “Tao cần lương thiện” – thứ mà cụ Bá làm sao có được. Và thế là Chí Phèo tìm đến hành động duy nhất đúng của mình: đâm chết Bá Kiến rồi tự kết liễu đời mình. Cái chết của Chí Phèo chỉ làm cho Thị Nở chột dạ. Thị vội nhìn xuống bụng và hình ảnh cái lò gạch bỏ không lại thấp thoáng đâu đó. Cách kết của Nam Cao là có sự tiếp nối trên cả hai nghĩa: kết cấu tác phẩm và số phận nhân vật. Hình ảnh cái lò gạch bỏ không là nơi Chí Phèo quỷ dư cất tiếng khóc, rồi từ đó trở thành một con vật đáng sợ. Kết thúc truyện – khi mà mối tình Thị Nở - Chí Phèo rất có khả năng truyền lại dòng máu du côn thì hình ảnh cái lò gạch bỏ không kia là nỗi ám ảnh đầy ghê sợ. Biết đâu một Chí Phèo con nữa lại ra đời, lại ầm ầm tiếng chửi và đi theo vết xe đổ của Chí Phèo kiếp trước. Cách kết ấy có một nét bi quan.
Nam Cao viết như vậy là vì hồi ấy (1941), Nam Cao chưa có được ánh sáng văn hóa mới, theo cách gọi là phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa. Còn cách kết của Kim Lân – mà nó gợi rất nhiều niềm tin ấy là vì ông đã có mười mấy năm chiêm nghiệm, đã có nền văn học Cách mạng kháng chiến soi đường chỉ lối. Nói cách khác, chính thời đại lịch sử cùng những biến động trong phương pháp sáng tác, quan điểm, quy luật cuộc sống trong nhận thức của mỗi nhà văn đã có sự chi phối đến cách kết thúc truyện. Tuy cách kết thúc khác nhau, tuy hình tượng người nông dân với số phận và cảnh ngộ khác nhau nhưng đối với “Chí Phèo”“Vợ nhặt”, chúng ta vẫn bắt gặp những nét đặc sắc trong tư tưởng nhân đạo của mỗi tác phẩm. Có thể trong đó con người ta sống với nhau bằng đâm chém, có thể bao nhiêu nước mắt và máu đã đổ, nhưng tình thương – một tình cảm thiêng liêng – luôn nằm trong quỹ đạo tình cảm con người thì không bao giờ dập tắt.
Qua “Chí Phèo”, Nam Cao muốn nói với ta rằng: chính tình thương là thứ kì diệu nhất để chữa lành vết thương và cải tạo con người. Nhà văn cũng phát hiện ra bao tính người đẹp đẽ, bền lâu trong con người đã bị mất hết nhân tính. Mối tình Thị Nở và Chí Phèo là một mối tình có ý nghĩa nhất mà con người khát khao theo đuổi. Và tình yêu có gì lớn lao hơn việc cho con người ta sống tốt hơn, đẹp hơn! Đó cũng chính là kết tinh, là sự thể hiện sâu sắc và rực rỡ những giá trị tư tưởng nhân đạo của Nam Cao, của kiệt tác văn xuôi này. Chí Phèo bằng xương bằng thịt chết đi, nhưng một Chí Phèo đủ trí thông minh để nhận ra nguyên nhân của cuộc đời bùn đen thì vẫn sống mãi. Tiếng nói, tiếng đòi lương thiện là di sản lớn nhất và quý nhất mà cuộc đời nông dân Chí Phèo gửi lại cho hậu thế. Một con người như thế sẽ vẫn là một tình yêu con người.
Với “Vợ nhặt”, Kim Lân cho hay: trong cái đói người ta không nghĩ đến cái chết mà nghĩ đến sự sống. Nghĩ đến sự sống để thắp sáng, làm ấm lên bao nỗi đời mong manh, chiếc vắng, khốn khổ. Tình thương làm con người ta dám bước qua ngưỡng cửa, ranh giới của tử thần để trở về với nhau. Cuộc sống thật nhân hậu làm sao trước ngòi bút Kim Lân! Nhưng còn hơn thế, là tình thương, là niềm tin mãnh liệt vào tương lai. Tư tưởng nhân đạo của Kim Lân đặc săc là ở đấy.
Cùng đề tài, cùng thể loại, Nam Cao, Kim Lân đã cho ta hiểu sâu, số phận và vẻ đẹp phẩm chất của người nông dân trước Cách mạng. Họ phải sống thường trực trong cảnh đau thương, tủi nhục, tăm tối. Nhưng ngay cả khi bị đẩy vào tình trạng lưu manh hóa, họ vẫn cháy bỏng khát khao lương thiện và hoàn cảnh dù khắc nghiệt đến đâu vẫn không giết chết được phần người trong tâm hồn của họ. Giá trị đặc sắc của hai truyện là có một điểm gặp gỡ về cách nhìn, cách phản kháng hiện thực cuộc sống. Đặc sắc hơn là mỗi truyện có một cách khám phá riêng. Hình tượng Chí Phèo, anh Tràng, người vợ nhặt hay bà cụ Tứ đều trở thành hình tượng tiêu biểu của một lớp người, theo thời gian trong lòng người đọc.
Mạch văn của mỗi tác phẩm sẽ còn gợi nhắc cho mỗi chúng ta bao nỗi day dứt về số phận con người. Day dứt và rồi tin tưởng. Sức mạnh của người nông dân cùng những phẩm giá cao đẹp của họ sẽ làm nên một cuộc cách mạng, một cuộc sống mới và sự thật là thế.

Hai truyện ngắn còn có một chức năng dựng tả làm phong phú thêm những sáng tác xoay quanh đề tài người nông dân. Sự đặc sắc và riêng biệt ở mỗi tác phẩm đều đưa lại một dấu ấn đậm nét trên bình diện chung của đề tài ấy. Và như thế, với “Chí Phèo”“Vợ nhặt”, hình tượng người nông dân vẫn còn sống mãi với những giá trị vĩnh hằng.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét