06 tháng 1 2016

Giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo trong tác phẩm ''Vợ chồng A Phủ" của Tô Hoài

ruyện ngắn Vợ chồng A Phủ được trích từ tập truyện Tây Bắc (1953). Tập truyện này đã từng được nhận giải nhất giải thưởng văn nghệ (1954 – 1955).
Vợ chồng A Phủ là một thành công nghệ thuật xuất sắc của Tô Hoài sau cách mạng, là thành tựu của văn học kháng chống Pháp, đồng thời là tác phẩm tiêu biểu về đề tài miền núi.
Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ là kết quả chuyến đi 8 tháng trong năm 1952 của Tô Hoài cùng bộ đội vào giải phóng Tây Bắc cùng sống với đồng bào các dân tộc. Qua chuyến đi này nhà văn càng hiểu biết sâu sắc hơn, yêu mến hơn thiên nhiên, cuộc sống con người Tây Bắc.
Trước cách mạng Tô Hoài cũng đã từng viết về đề tài miền núi nhưng chưa thành công và chỉ từ sau chuyến đi thực tế Tây Bắc ấy nhà văn mới thật sự khẳng định mình là một trong những cây bút xuất sắc viết về đề tài miền núi. Chính vì vậy truyện ngắn Vợ chồng A Phủ còn là kết quả của sự chuyển biến về tư tưởng, về đò chín muồi của nhà văn khi viết về miền núi.
Vợ chồng A Phủ viết về sự đổi đời của đôi vợ chồng người H’mông "từ thung lũng đau thương ra cánh đồng vui” từ thân phận nô lệ trở thành chủ nhân cuộc đời mới. Nổi bật lên trong tác phẩm là hai hình tượng nhân vật cuộc đời mới. Nổi bật lên trong tác phẩm là hai hình tượng nhân vật Mỵ và A Phủ, qua hai nhân vật này người đọc thấy được giá trị hiện thực và chiều sâu nhân đạo của ngòi bút Tô Hoài.
Vợ chồng A Phủ là bức tranh xã hội miền núi trước Cách mạng tháng Tám.
Ngòi bút của Tô Hoài khá toàn diện khi tác giả phản ánh cả bộ mặt giai cấp thống trị và đời sống nhân dân lao động bị áp bức.
Cha con nhà thống lý Pá Tra là hiện thân của tội ác giai cấp thống trị miền núi. Chúng duy trì chế độ lang đạo thổ ty chế độ chúa đất từ thời trung cổ vô cùng tàn bạo. Trong chế độ ấy giai cấp thống trị có quyền chiếm đoạt ruộng đất bóc lột sức lao động, đánh đập hành hạ, thậm chí giết những người bị chúng biến thành nô lệ. Chỉ cần nhìn vào cảnh xử kiện, đánh đòn phạt vạ A Phủ cũng đủ thấy sự tham lam tàn bạo của những tên chúa đất miền núi. Và cũng chỉ cần nhìn vào cảnh A Sử trói Mỵ một cách lạnh lùng tàn nhẫn cũng đủ thấy sự vô lương tâm đến mất hết tính người của giai cấp thống trị.
Khi A Sử biết Mỵ định đi chơi hắn đã lấy cả một thúng sợi đay trói đứng Mỵ vào cột. Trói xong Mỵ, A Sử thản nhiên lấy chiếc thắt lưng xanh thắt ra ngoài áo, thản nhiên tắt đèn, thản nhiên khép cửa lại thật lạnh lùng không suy nghĩ. Tính mạng con người trong nhà thống lý Pá Tra rẻ mạt đến thế là cùng.
Bên cạnh sự tàn bạo về cường quyền giai cấp thống trị còn duy trì sự tàn bạo của thần quyền, hủ tục trình ma đà tước đi cả sự sống những khát vọng giải thoát ở những con người lao động bị áp bức. Bằng cái ma vô hình giai cấp thống trị cột chặt chế độ nô lệ của những người lao động trong ngục tù của cường quyền và thần quyền.
Giá trị hiện thực cơ bản của truyện ngắn Vợ chồng A Phủ là sự phản ánh toàn diện sâu sắc đời sống người dân lao động bị áp bức qua hai nhân vật chính Mỵ và A Phủ.
Bức tranh về đời sống tăm tối đến nghẹt thở của người dân lao động được phản ánh qua số phận Mỵ và A Phủ trong thời gian ở Hồng Ngài.
Mỵ vốn là một cô gái H’mông xinh đẹp, nết na, Mỵ có tài thổi sáo, thổi lá cũng hay như thổi sáo. Cô như bông hoa rừng ngát hương làm say đắm bao chàng trai nhưng chỉ vì một món nợ truyền kiếp Mỵ trở thành dâu gạt nợ trong nhà thống lý Pá Tra. Cô bị bóc lột sức lao động tàn nhẫn trở thành con trâu con ngựa trong nhà thống lý. Thậm chí còn khổ hơn cả kiếp đời trâu, ngựa. Vì con trâu con ngựa làm còn có lúc đêm đến nó còn được đứng nhai cỏ hoặc gãi chân chứ đời người đàn bà con gái trong nhà thống lý thì làm việc không kể ngày đêm. Không những bị bóc lột sức lao động, Mỵ còn bị đánh đập hành hạ thật tàn nhẫn ngày tết Mỵ không được đi chơi còn bị A Sử trói đứng trong buồng tối.
Cùng với sự đày đọa về thể xác Mỵ còn bị chà đạp về tinh thần. Bị áp bức quá nặng nề người con gái giàu sức sống khi nào giờ đây trở thành người phụ nữ cam chịu. Dưới ngòi bút của Tô Hoài căn buồng Mỵ ở được miêu tả như một ngục thất nó làm Mỵ mất khái niêm về thời gian, không gian. Mỵ suốt ngày lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa. Ở lâu trong cái khổ Mỵ đã quen rồi, Mỵ tưởng mình là con trâu con ngựa trong nhà thống lý, Mỵ trở thành công cụ lao động biết nói mà không dám nói.
Cũng giống như Mỵ, A Phủ mang số phận của một nông nô miền núi.
A Phủ vốn là một chàng trai mồ côi tuy khỏe mạnh nhưng nghèo nên không lấy được vợ. A Phủ vốn là chàng trai của núi rừng tự do không chỉ khỏe chạy nhanh như ngựa mà còn có tài trồng trọt săn bắn, biết đúc luỡi cày lưỡi cuốc bẫy hổ săn bò tót rất bạo. Chỉ vì A Phủ đánh con quan để bảo vệ cuộc vui xuân của trai bản mà anh bị bắt về đánh phạt vạ. A Phủ bị hành hạ một cách nhục hình cởi trân quỳ để chịu đòn, trong khi bọn thống trị ăn chơi phè phỡn. Vì không có tiền nộp phạt A Phủ đã bị biến thành kẻ đi ở không công với lời nguyền độc địa của thống lý Pá Tra lúc trình ma: "Đời mày đời con mày tao cũng bắt thế nếu không trả hết nợ". Cũng như Mỵ, A Phủ bị cường quyền, thần quyền tước đoạt đi cả sức sống. Môt chàng trai như A Phủ mà tự đi đào lỗ chôn cọc, tự đi lấy dây trói, lấy cọc về để thống lý Pá Tra trói mình để đợi ngày chết khô chết héo thật đúng tính mạng con người vô cùng rẻ mạt, A Phủ trở thành vật thế mạng cho con bò đã bị hổ ăn thịt.
Có thể nói Mỵ và A Phủ là hiện thân những đau khổ của người dân miền núi trước cách mạng và qua số phận họ là bức tranh về đời sống tăm tối đến nghẹt thở của nhiều người lao động bị áp bức.
Với Vợ chồng A Phủ Tô Hoài còn phản ánh một hiện thực cơ bản nữa trong xã hội hiện thực lúc bấy giờ. Đó là sự vùng lên đấu tranh, là nguyên vọng hướng tới cách mạng của người dân lao động nghèo khổ.
Qua số phận Mỵ và A Phủ từ khi trốn khỏi Hồng Ngài đến Phiềng Sa, nhà văn đã phản ánh quá trình đấu tranh từ tự phát đến tự giác của người dân miền núi. Lúc đầu Mỵ và A Phủ chạy trốn cái chết nhưng sau đó lại đến với cách mạng, ở Vợ chồng A Phủ Tô Hoài còn phản ánh một hiện thực cơ bản nữa trong xã hội hiện thực lúc bấy giờ. Đó là sự vùng lên đấu tranh, là nguyện vọng hướng tới cách mạng của người dân lao động nghèo khổ.
Bên cạnh giá trị hiện thực truyện Vợ chồng A Phủ còn mang giá trị nhân đạo sâu sắc.
Những nội dung cơ bản nhất làm nên giá trị nhân đạo của tác phẩm văn học đều có trong Vợ chồng A Phủ. Niềm thương cảm sâu sắc đối với con người, sự lên án tố cáo nhiều thế lực tàn bạo, đặc biệt là sự khẳng định ngợi ca sức sống tiềm tàng sức mạnh vùng lên giải phóng và những khát vọng chân chính của con người, sự hướng tới những giải pháp mang tinh thần nhân đạo.
Ở Vợ chồng A Phủ ta bắt gặp sự đồng cảm thương cảm đến sâu sắc của nhà văn giành cho những con người bị áp bức, những con người đau khổ. Nếu không có niềm thương cảm sâu sắc thì nhà văn không thể hóa thân vào nhân vật để hiểu thấu những đường nét quanh co đầy bí ẩn những tâm trạng tinh tế phức tạp của Mỵ. Đoạn văn tả tâm trạng Mỵ trong đêm mùa xuân nghe tiếng sáo gọi bạn thấm đượm một niềm xót thương vô hạn cho số phận người con dâu trừ nợ và nâng niu trân trọng những giấc mơ tình tứ, đẹp đẽ của một con người. Bằng hình thức ngôn ngữ nửa trực tiếp ngòi bút của tác giả đã thâm nhập vào thế giới nội tâm của nhân vật biểu hiện một tấm lòng nhân đạo tha thiết.
Truyện Vợ chồng A Phủ còn là bản cáo trạng đanh thép tội ác giai cấp thống trị miền núi. Sống trong cái địa ngục trần gian của nhà thống lý Pá Tra, người thì thân phận dâu gạt nợ kẻ thì thành nông nô đi ở không công, Mỵ như một bông hoa rừng xinh đẹp bỗng bị quăng quật dập vùi, sẽ chết khô chết héo nếu không có ánh sáng của cách mạng. Một chàng trai khỏe mạnh, con người của núi rừng tự do như A Phủ mà bị biến thành vật thế mạng cho con bò bị hổ ăn thịt thì quả tình thân phận con người bị rẻ rúng đến thế là cùng.
Tuy nhiên giá trị nhân đạo của tác phẩm là ở chỗ nhà văn đã phát hiện khẳng định ngợi ca sức sống tiềm tàng và sức mạnh vùng lên giải phóng của những người lao động bị áp bức.
Mỵ và A Phủ là hiện thân của sức sống tiềm tàng không gì dập tắt nổi.
Ở Mỵ thường có hai mặt tưởng chừng như đối lập nhưng lại thống nhất trong một tính cách, một mặt bị áp bức nặng nề Mỵ trở nên cam chịu mặt khác ở Mỵ vẫn tưng bừng một khát vọng sống. Mỵ không phải là cây nến leo lét đợi ngày tàn lụi Mỵ như bếp than hồng âm ỉ dưới lớp tro tàn chỉ đợi ngày bùng lên thành lửa ngọn.
Cô không chấp nhận cuộc sống nô lệ nên đã định tìm đến cái chết để giải thoát. Cách uống rượu của Mỵ chứa đựng sự phản kháng, cô cứ uống ừng ực từng bát một. Cò uống rượu mà như nuốt hận nuốt tủi như nén giận vào lòng như để rạo rực men say tuổi trẻ của một thời đã qua. Và trong đêm tình mùa xuân nghe tiếng sáo gọi bạn thì sức sống tiềm tàng của Mỵ đã bùng lên dữ dội trong cả khát vọng hạnh phúc cũng như trong tình huống bi thảm nhất.
Ngày tết Mỵ không được đi chơi, bị giam trong buồng tối khi nghe tiếng sáo gọi bạn thì tiếng sáo đã làm thức tỉnh con người tâm linh trong Mỵ đưa cô từ cõi quên về cõi nhớ. Mỵ nhớ lại thân phận làm dâu gạt nợ đắng cay và Mỵ nhớ cả về quá khứ tươi đẹp hạnh phúc. Nhớ lại những ngày chưa làm dâu gạt nợ trẻ trung, xinh dẹp, nết na Mỵ lại càng khao khát hạnh phúc trong hiện tại, cô muốn thoát khỏi cồn buồng chật hẹp tăm tối. Mỵ với chiếc váy hoa chuẩn bị đi chơi Mỵ thôi làm con rùa lầm lũi nơi xó cửa, Mỵ muốn làm cánh chim tung bay giữa bầu trời tự do để chào đón mùa xuân.
Việc A Sử trói Mỵ chỉ làm dồn lại nhựa sống mùa xuân trong Mỵ, mặc dù bị trói tâm hồn cô vần hướng theo tiếng sáo đến với cuộc chơi xuân. Mỵ vùng bước đi mặc dù chân tay đau không cựa được A Sử có thể giam Mỵ giữa ngày xuân chứ không giam được sức sống mùa xuân trong Mỵ.
Ở A Phủ cũng tiềm tàng một sức sống, sức mạnh phản kháng khi bị đánh phạt vạ trước những trận đòn dã man. A Phủ vẫn im lìm như cái tượng đá. Thái độ ấy, tư thế ấy là sự chất chứa hờn căm, là sự bất phục bất tuân thầm lặng nhưng qụyết liệt. Khi bị trói A Phủ tìm cách thoát, không thoát được thì trong đôi mắt A Phủ không chỉ có giọt lệ chảy xuống gò má xạm đen mà từ đôi mắt trừng trừng ấy còn bập bùng hai ngọn lửa sống hay đốm sáng của khát vọng, hy vọng. Lúc được Mỵ cởi trói A Phủ khuỵu xuống vì kiệt sức nhưng sau đó lại quật sức vùng lên chạy không chỉ là chạy trốn cái chết mà còn tìm đến con đường giải phóng.
A Phủ và Mỵ là hiện thân của sức mạnh vùng lên giải phóng tháo cũi sổ lồng. Sức mạnh ấy kết tụ lại trong hành động Mỵ cắt dây trói cứu A Phủ trong một đêm mùa đông. Lúc đầu là sự đồng cảm với người cùng cảnh ngộ sau đó là ý thức về sự giải thoát Mỵ cứu A Phủ đồng thời là tự cứu bản thân mình. A Phủ bị trói là hiện hình cái chết của Mỵ trong tương lai. Mỵ giải thoát cho A Phủ cũng có nghĩa là cô đã xóa đi hình ảnh cái chết của mình trong tương lai. Với hành động cứu A Phủ và tự cứu cùng một lúc Mỵ đã bước qua hai ngục tù cường quyền và thần quyền.
Sức sống tiềm tàng của Mỵ của A Phủ đã phát triển thành sức mạnh giải phóng, bếp than hồng sau bao ngày âm ỉ dưới lớp tro tàn giờ đây đà bùng lên thành lửa ngọn, ngọn lửa ấy không chỉ sưởi ấm cho cuộc đời Mỵ và A Phủ mà còn soi rọi ánh sáng hạnh phúc trên con đường đi tới tương lai của họ.
Là tác phẩm của nền văn học cách mạng, giá trị nhân đạo của Vợ chồng A Phủ được nâng lên một tầm cao so với văn học hiện thực phê phán trước đó. Nếu văn học hiện thực phê phán trước cách mạng chủ yếu thể hiện nhu cầu khát vọng hạnh phúc, khát vọng giải phóng con người thì văn học cách mạng còn khẳng định khả năng con người có thể thực hiện những nhu cầu, những khát vọng ấy.
Nếu điểm mạnh của văn học hiện thực phê phán là ờ sự mổ xẻ phân tích lý giải hiện thực thì văn học cách mạng không chỉ lý giải mà còn góp phần cải tạo hiện thực. Mỵ và A Phủ trốn khỏi Hồng Ngài trong một đêm mùa đông giá lạnh của cuộc đời để đến với một mùa xuân mới tràn đầy hanh phúc. Trốn khỏi Hồng Ngài tới Phiềng Sa là bước ngoặt quan trọng trong cuộc đòi Mỵ và A Phủ từ thân phận nô lệ họ đã trở thành chủ nhân của cuộc đời từ "thung lũng đau thương" họ đã ra tới "cánh đồng vui".
Với giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo, với thành công trong việc xây dựng nhân vật để thể hiện tư tưởng nội dung tác phẩm như đã phân tích ở trên thì truyện ngắn Vợ chồng A Phủ xúng đáng nhận giải nhất về văn xuôi văn học kháng chiến chống Pháp.
Một tác phẩm văn học có giá trị là một bức tranh chân thực về đời sống và ý nghĩa thực sự của nó là góp phần nhân đạo hóa con người. Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài là một tác phẩm như vậy.
Tác phẩm Vợ chồng A Phủ đã từng được dựng thành phim; từ địa hạt văn học Vợ chồng A Phủ đã bước sang cả lĩnh vực điện ảnh điều đó chứng tỏ ngoài giá trị văn chương tác phẩm này còn có tác dụng xã hội thiết thực nó góp phần vào việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng. Một chính sách mang tinh thần nhân đạo và cách mạng: giải phóng những người lao động bị áp bức bóc lột, giải phóng sức sống bị các thế Iực tàn bạo đã man trói buộc vì hạnh phúc và sự phát triển của cốc đồng bào dân tộc miền núi để người miền núi cũng như người miền xuôi, người thiểu số cũng như người Kinh đều hòa nhập trong đại giai đoạn các dân tộc Việt Nam.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét